Phỏng vấn IR-ers

Người ta học Quan hệ quốc tế như thế nào? #1 Hãy luôn cố gắng mỗi ngày. Điều mình cần tìm đang nằm ở phía trước.

Nguyễn Phương Mai và tôi cùng học chung lớp đại học. Tôi luôn thắc mắc, lý do gì để bạn luôn giữ vững nếp học tốt khi xung quanh có nhiều điều làm tâm trí băn khoăn. Bên cạnh việc học trên lớp, Phương Mai tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa và duy trì công việc làm thêm vào năm cuối đại học.

Trong mắt tôi, Phương Mai là một người bạn có tính kỷ luật, khi bài tập nào cũng làm đúng hạn với sự chỉn chu ngay ngắn. Tại sao bạn tôi có thể duy trì phong độ học tập như thế?

Phương Mai đã học ngành Quan hệ quốc tế như thế nào? Ngày hôm nay, bạn hãy cùng tôi lắng nghe câu chuyện của Nguyễn Phương Mai, cựu sinh viên ngành Quan hệ quốc tế khóa 13, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM để hiểu được điều bạn muốn gửi gắm: “HÃY LUÔN CỐ GẮNG MỖI NGÀY. ĐIỀU MÌNH CẦN TÌM ĐANG NẰM Ở PHÍA TRƯỚC”.

MỤC LỤC

I. VỀ CÔNG VIỆC HIỆN TẠI CỦA PHƯƠNG MAI

  1. Phát triển bền vững trong doanh nghiệp nghĩa là gì?
  2. Chia sẻ của Phương Mai về công việc hiện tại.
  3. Phương Mai đã áp dụng kiến thức ngành Quan hệ quốc tế vào công việc như thế nào?
  4. Vì sao Mai biết đến công việc này? Mai đã có định hướng học Quan hệ quốc tế xong để làm việc này, hay công việc tình cờ đến?

II. VỀ VIỆC DU HỌC NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

  1. Vì sao Mai du học thạc sĩ ngành Quan hệ quốc tế?
  2. Vì sao Mai du học ở Hà Lan – University of Groningen, chuyên ngành International Political Economy (Kinh tế chính trị quốc tế)?
  3. Những “vỡ lẽ”, khác biệt giữa việc học thạc sĩ ở Hà Lan so với việc học đại học ở Việt Nam
  4. Người ta dạy Mai về ngành Quan hệ quốc tế như thế nào?
  5. Chia sẻ của Phương Mai dành cho các bạn có định hướng du học

III. NHỮNG CHIA SẺ CỦA PHƯƠNG MAI VỀ NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

  1. Vì sao Mai chọn học đại học ngành Quan hệ quốc tế?
  2. Trong lúc học, có bao giờ Mai băn khoăn về định hướng nghề nghiệp? Nếu có, Mai đã làm gì để vượt qua sự lo lắng ấy mà vẫn có thể chuyên tâm học tập? Phương pháp học tập của thủ khoa là gì?
  3. Sinh viên nên chuyên tâm học nhiều hơn hay đi làm nhiều hơn để có kinh nghiệm? Làm sao Mai có thể phân bố thời gian để vừa hoàn thành việc học, lại có thể đi làm thêm và tham gia hoạt động ngoại khóa?
  4. Học Quan hệ quốc tế xong ra trường làm gì?
  5. Có điều gì Mai muốn thay đổi nếu được trở lại thời sinh viên?

IV. LỜI NHẮN NHỦ CỦA PHƯƠNG MAI DÀNH CHO CÁC BẠN SINH VIÊN

I. VỀ CÔNG VIỆC HIỆN TẠI CỦA PHƯƠNG MAI

Sau khi kết thúc việc học thạc sĩ, hiện tại Nguyễn Phương Mai đang là Sustainability Officer – Phòng ban Corporate Sustainability (Phát triển bền vững), của tập đoàn FrieslandCampina (Hà Lan).

1. Phát triển bền vững trong doanh nghiệp nghĩa là gì? 

Corporate Sustainability – Doanh nghiệp phát triển bền vững là một khái niệm không mới nhưng có lẽ vẫn chưa được nhân rộng ở Việt Nam. Còn ở châu Âu, các doanh nghiệp hiện nay rất chú trọng vào Sustainability: Phát triển kinh tế, gia tăng lợi nhuận một cách bền vững.

Phương Mai giải thích: Các bạn có thể nhìn vào trường hợp các tập đoàn đa quốc gia hoặc doanh nghiệp có vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam. Trong quá trình kinh doanh, sản xuất, một số doanh nghiệp nước ngoài góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Ví dụ vào năm 2016, Formosa xả nước thải ra môi trường gây nên hiện tượng cá chết hàng loạt ở vùng biển miền Trung Việt Nam. Vì những lý do trên, phòng ban Sustainability được lập ra nhằm mục đích đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả nhưng không gây hại cho môi trường, xã hội.

Hiện tại, ở châu Âu, sustainability là vấn đề nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp. Không chỉ đơn thuần bảo vệ môi trường, sustainability còn có thể liên quan đến nhiều vấn đề khác. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ngành sữa, khi họ đến một nơi để đặt nhà máy sản xuất sữa, họ quan tâm đến việc có hay không tình trạng gây nên tiếng ồn cho môi trường xung quanh, thải rác ra môi trường và cách xử lý nguồn rác, công ty có đang xâm phạm đến môi trường sống, đến quyền con người của người dân khu vực đó không.

Bên cạnh đó, sustainability còn thể hiện qua những chính sách trong doanh nghiệp. Dựa trên những quy định (standards, guidelines) do EU (the European Union – Liên minh châu Âu)OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) ban hành, mỗi doanh nghiệp có cơ sở cụ thể để thực hiện chiến lược phát triển bền vững.

Ví dụ, vào năm 2022, FrieslandCampina đề ra chính sách zero-deforestation”, cam kết đến năm 2025 sẽ không mua hàng hóa từ các nguồn chặt phá rừng nữa. Kể từ đó, phòng ban của Phương Mai bắt đầu thực hiện giám sát chuỗi cung ứng, xem nguồn cung được lấy từ khu vực nào và theo dõi mức độ chặt phá rừng ở các quốc gia, khu vực khác nhau (châu Á, châu Mỹ,…) nhằm kịp thời can thiệp nếu có sự cố. Sau đó, vào năm 2023, EU công bố quy định deforestation regulation”, yêu cầu các công ty trong khối EU không được nhập hàng từ nguồn chặt phá rừng. Những việc mà Mai cùng đồng nghiệp đã và đang làm, vừa tuân theo chính sách của công ty, vừa điều chỉnh và thực hiện theo đúng quy định đến từ EU.

Ảnh: Nguyễn Phương Mai trong lần tham quan trang trại bò sữa của FrieslandCampina (Hà Lan)NVCC

2. Chia sẻ của Phương Mai về công việc hiện tại

Để hoàn thành học phần thực tập, Phương Mai làm thực tập sinh ở phòng Corporate Sustainability của tập đoàn FrieslandCampina (Hà Lan). Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ, Mai tiếp tục công việc này với chức danh nhân viên toàn thời gian.

Sustainability là khái niệm đang phát triển mạnh ở châu Âu. Vì vậy, những công việc trong lĩnh vực sustainability rất đa dạng. Ở Việt Nam, công việc liên quan đến phát triển bền vững trong doanh nghiệp có thể chưa nhiều nhưng trong vòng 5 năm tới sẽ có biến chuyển tích cực hơn, Mai dự đoán.

Những người làm trong ngành Sustainability có xuất thân đa dạng. Bạn có thể tốt nghiệp ngành Technology (Công nghệ); bạn sẽ biết được máy móc nào làm giảm lượng carbon. Chuyên môn của bạn có thể là Human Rights (Quyền con người), để biết cách giải quyết những vấn đề vi phạm đến cộng đồng. Còn với những ai học Quan hệ quốc tế, các bạn sẽ có óc quan sát những mối nguy (challenges) khác nhau mà từng vùng (regions) khác nhau đang đối mặt. Ví dụ, một số công ty sản xuất dầu cọ ở Indonesia lấy đất trồng trọt của nông dân mà không quan tâm giấy phép, như vậy công ty đã vi phạm quyền sở hữu của người dân. Việc của Sustainability Officer là nhận biết được những trường hợp này và đưa ra hành động thích hợp.

“Là một người học Quan hệ quốc tế, các bạn sẽ theo dõi tình hình thời sự một cách sát sao. Nghĩa là khi có một điều gì mới xuất hiện, các bạn sẽ dễ dàng nắm bắt. Các quy định dành cho công ty thì nhiều vô kể. Mỗi khi EU hoặc OECD đề ra quy định mới, các bạn có nền tảng Quan hệ quốc tế sẽ nhanh chóng nắm được và nghiên cứu, điều hướng chính sách công ty tuân theo những tiêu chuẩn mới được đề ra” – Mai nói.

Ảnh: Nhân vật cung cấp

3. Phương Mai đã áp dụng kiến thức ngành Quan hệ quốc tế vào công việc như thế nào?

Với nền tảng của ngành Quan hệ quốc tế, sinh viên có thể áp dụng kiến thức hoặc tư duy nào để làm công việc Sustainability Officer? Phương Mai đã có 5 điều chia sẻ sau đây:

👉Điều 1: Tư duy chiến lược (Strategic mindset)

Các bài tập trên lớp thường yêu cầu sinh viên phân tích các chính sách (policy) của nhà nước và doanh nghiệp. Từ đó, sinh viên nhìn nhận được một chính sách tốt bao gồm các yếu tố nào, và dự đoán những thay đổi có thể xảy ra nếu có một chính sách mới xuất hiện.

Trong phòng ban Mai đang làm việc, việc viết ra các chính sách (policy/roadmap) là điều rất quan trọng, vì các chính sách này sẽ định hướng hoạt động của tập đoàn trên nhiều quốc gia. Phòng ban của Mai đã viết “climate plan”, “no-deforestation policy”. Nhiều người trong các phòng ban cùng viết ra chính sách cho công ty. Để cùng nhau đề ra các chính sách, rất cần một nhóm với các thành viên có tư duy chiến lược (strategic mindset) và các sinh viên ngành Quan hệ quốc tế được trang bị tư duy này.

👉Điều 2: Nhận biết những vấn đề phức tạp đan xen lẫn nhau (Complex issues)

Trên lớp, các sinh viên được học về các chủ thể khác nhau trong Quan hệ quốc tế (những chủ thể quốc gia – state actors như nhà nước, những chủ thể phi quốc gia – non state actors như các công ty,…). Khi làm việc tại doanh nghiệp, sinh viên sẽ tiếp xúc với nhiều vấn đề phức tạp (complex issues) mà trong đó có các chủ thể (actors) khác nhau. Ví dụ như câu chuyện công ty lấy đất người dân để trồng cọ đã kể ở trên; để giải quyết vấn đề, các nhân viên của phòng ban cần làm việc với nhiều chủ thể (các MNCs – multinational corporations: các công ty đa quốc gia, người dân, nhà cung cấp, chính quyền, các tổ chức phi chính phủ,…).

Các sinh viên Quan hệ quốc tế có lợi thế trong việc nhận biết các nhu cầu (needs) thách thức (challenges) của các chủ thể để đưa ra phương án giải quyết toàn diện.

👉Điều 3: Kỹ năng nghiên cứu

Nhìn chung, các sinh viên hiện nay đều được học môn Phương pháp nghiên cứu khoa học. Vì nhiều lý do khác nhau, một số bạn chưa hình dung được Nghiên cứu khoa học có ích gì cho tương lai. Còn Mai, Mai đã áp dụng kỹ năng nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, vì công việc hiện tại của Mai đòi hỏi như vậy.

Bài tập cơ bản nhất của môn Phương pháp nghiên cứu khoa học, là yêu cầu sinh viên viết được Literature Review (tổng quan về chủ đề nghiên cứu, xác định xem chủ đề này đã được bàn luận ở bài nghiên cứu nào chưa: nếu có, những tác giả trước đây đã viết cái gì, như thế nào, có điều gì mà các tác giả trước chưa nhắc đến).

Để viết được Traceability Methodology (Phương pháp theo dõi tình hình phá rừng trong chuỗi cung ứng) cho công ty, Mai đã phải đọc rất nhiều literature review và tham khảo những framework (tạm dịch: hướng dẫn) khác nhau đến từ các initiative (tạm dịch: Sáng Kiến) và các NGOs (Non-governmental organizations – Các tổ chức phi chính phủ). Từ đó, Mai mới có thể xây dựng methodology (tạm dịch: phương hướng/phương pháp) cho chính công ty mình.

*(Chú thích: initiative (tạm dịch: Sáng Kiến)initiative ở đây thường được hiểu là các giải pháp, chương trình do các công ty hoặc các NGO cùng nhau đề ra)

👉Điều 4: Sự hiểu biết về “global issues” – những vấn đề toàn cầu

“Hồi đại học, môn Những vấn đề toàn cầu mình chỉ học tàng tàng, “cưỡi ngựa xem hoa” thôi” – Mai cười bảo. Tuy nhiên, khi nhắc đến việc học Quan hệ quốc tế giúp ích gì cho công việc hiện tại, Mai nhớ đến môn Những vấn đề toàn cầu.

Sinh viên Quan hệ quốc tế là những người “thức thời” về các thách thức mà thế giới đang đối mặt: ô nhiễm môi trường, khủng hoảng kinh tế, nạn nghèo đói, dịch bệnh,… Nghĩa là các bạn am hiểu nhất định về những vấn đề toàn cầu mang tính thời sự.

Liên quan đến công việc hiện tại, Mai chia sẻ, từ việc hiểu biết các vấn đề toàn cầu, Mai có thể nhận biết được các mối nguy mà công ty đang gặp phải (ví dụ, công ty có đang gây ô nhiễm môi trường trong lúc thực hiện việc sản xuất?) cũng như những vấn đề mà công ty có thể giải quyết (ví dụ, là một công ty ngành hàng thực phẩm với các sản phẩm được chế biến từ sữa và phô mai, công ty của Mai có thể đóng góp vào mục tiêu số 2 – zero hunger trong tổng số 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc).

👉Điều 5: Cảm quan về tình hình chính trị, kinh tế và con người ở những vùng khác nhau trên thế giới

Bằng việc theo dõi tình hình thời sự trong nước cũng như quốc tế một cách sát sao, các sinh viên Quan hệ quốc tế sẽ biết được các quốc gia khác nhau có vấn đề nào nổi cộm.

Từ đó, một trong những đầu việc mà người xuất thân ngành Quan hệ quốc tế hay làm ở nước ngoài, là viết country risk profile. Điển hình, Mai đang viết environmental risk assessment – tìm hiểu những vấn đề môi trường của từng quốc gia mà công ty Mai có giao thương.

Ví dụ, nếu công ty muốn mua đậu nành thì ở Brazil, mối nguy chặt phá rừng (deforestation risk) sẽ cao hơn ở Mỹ. Lý do vì mỗi nước có môi trường tự nhiên khác nhau, bộ máy chính quyền khác nhau, luật lệ cũng khác,…

Và đó là 5 điều Mai đúc kết được sau một thời gian làm việc, về những kỹ năng và kiến thức mà sinh viên Quan hệ quốc tế có thể áp dụng vào lĩnh vực Phát triển bền vững hoặc trong cả những ngành, lĩnh vực khác.

Ảnh: Phương Mai chụp trước Tòa án quốc tế ở Den Haag, Hà Lan – Toà án quốc tế vì công lý (International Court of Justice – ICJ), phân ban trực thuộc Liên Hợp Quốc.

4. Vì sao Mai biết đến công việc này? Mai đã có định hướng học Quan hệ quốc tế xong để làm việc này, hay công việc tình cờ đến?

Công việc tình cờ đến với Mai, sau quãng thời gian dài tìm kiếm với hàng loạt nỗ lực không ngừng nghỉ.

Trong lúc chương trình thạc sĩ đang đi đến giai đoạn cuối cùng, Mai muốn tìm một công việc thực tập liên quan đến ngành học. Thế là Mai lên website Linkedin (website dành cho doanh nghiệp và ứng viên tìm việc), gõ vào từ khóa “International Relations” hoặc “International Political Economy” (chuyên ngành của Mai) để tìm việc. Mai không biết gọi tên công việc là gì. Mai chỉ xem từ khóa “International Relations” sẽ xuất hiện trong các loại JD nào (Job Description – Mô tả công việc).

Mai chọn filter tìm kiếm là châu Âu. Kết quả, hằng hà sa số công việc hiện ra, liên quan đến ngành Quan hệ quốc tế. Mai đã nộp hồ sơ ứng tuyển nhiều nơi, có khi là ở các academic institution (viện nghiên cứu), có khi là ở các doanh nghiệp. Mai chưa biết sẽ “hạ cánh” ở đâu. Mai chỉ muốn thử tất cả công việc mà trong JD cho phép người học Quan hệ quốc tế ứng tuyển.

Một lần nọ, Mai đậu vào vòng làm bài test (kiểm tra) ở một công ty tài chính. Đề bài yêu cầu Mai phân tích một case study có thật ở ngoài đời: Một công ty sản xuất sắt thép ở Brazil đã làm vỡ bể chứa chất thải, cuốn trôi cả một ngôi làng, làm thiệt mạng nhiều người. Bên dưới đề bài là những câu hỏi như: Công ty đã vi phạm quy định nào của OECD Guidelines, United Nations Guiding Principles?

Mai làm bài trong sự tức giận vô cùng. Tại sao công ty có thể vô trách nhiệm như vậy? Tại sao họ lại đến các nước thứ ba, đa phần là các nước nghèo (developing countries), và hành xử như thể không quan tâm điều gì hết?

Họ lơ là trong việc kiểm soát bể chứa chất thải. Chỉ cần vỡ đập là nước lũ đã cuốn trôi người dân, còn đây lại là vỡ bể chứa chất thải hóa học nguy hiểm, cuốn chết những người dân vô tội.

Không chỉ vậy, hai năm sau, cũng chính công ty đó đã để xảy ra sự việc tương tự. Nghĩa là họ không ăn năn hối cải, không quan tâm đến sự việc sai trái đã làm hủy hoại môi trường sống và tính mạng con người.

Nói đến đây, giọng Mai xen lẫn tức giận và nghẹn ngào. Mai kể, sau lần làm bài test ở công ty tài chính đó, Mai nhận ra có lẽ đây là vấn đề Mai muốn giải quyết. Mai cảm thấy căm phẫn vô cùng và Mai muốn là người làm cho công ty không tái phạm những lỗi lầm như vậy.

Sau lần làm bài ấy, Mai không đậu phỏng vấn ở công ty tài chính trên. Nhưng từ sau khoảnh khắc đó, Mai đã nhận ra Mai muốn giải quyết vấn đề gì. Từ đây, Mai đã có định hướng ứng tuyển vào những công việc liên quan đến Sustainability, thay vì nộp hồ sơ tràng giang đại hải một cách vô định – nộp vào tất cả những nơi chỉ cần ứng viên học chuyên ngành Quan hệ quốc tế. Kết quả, Mai đã tìm được công việc thực tập chuyên môn Sustainability ở FrieslandCampina và gắn bó cho đến hôm nay.

Mai chia sẻ thêm: “Mình cũng như biết bao người, rằng mình không biết học Quan hệ quốc tế xong có thể làm gì. Nhưng bây giờ, mình nghĩ có một cách các bạn ở Việt Nam có thể thực hiện: Các bạn có thể lên website Linkedin, đổi filter địa điểm làm việc là châu Âu hoặc Mỹ, gõ vào thanh tìm kiếmInternational Relations”. Website sẽ trả về kết quả rất nhiều công việc liên quan đến Quan hệ quốc tế. Đọc JD, dần dần bạn sẽ mường tượng bạn có thể đi theo hướng nào. Đây cũng là một cách để bạn hình dung nghề nghiệp của ngành Quan hệ quốc tế ở thế giới ngoài kia”.

📌Đọc thêm: Sau đây là 2 mẫu JD – 2 công việc mà Phương Mai đã tìm kiếm trên Linkedin và gửi cho tôi xem. Như Mai đã chia sẻ, cơ hội nghề nghiệp của ngành Quan hệ quốc tế vô cùng rộng lớn. Tuy nhiên, bạn cần xác định lĩnh vực bạn muốn làm là gì. “Trong JD 1 thì tìm người thích tìm hiểu về “EU policies” và “decision-making”. JD 2 thì cần 1 người học ngành Quan hệ quốc tế nhưng “strong interest in the energy sector”. Ngoài xác định lĩnh vực yêu thích, bạn cũng cần xác định “sector” muốn vào nữa (là doanh nghiệp, NGOs, chính phủ, hay “think tank” – tạm dịch: tư vấn chính sách). Để xác định hai cái này thì quay lại câu hỏi ban đầu là “Vấn đề mình muốn giải quyết là gì?”. Vấn đề đó nằm ở nội dung nào – (topic of interest)?. Và vấn đề đó liên đới đến ai (sector nào)?”. Nếu bạn chưa xác định được bản thân muốn làm trong lĩnh vực nào? Thì hãy thử sức hết nhé, cho bản thân cơ hội trải nghiệm bất cứ điều gì mà bạn thấy “thinh thích”. Chúng ta còn rất trẻ và có rất nhiều thời gian mà.

Ảnh: Cuộc sống Hà Lan – NVCC

II. VỀ VIỆC DU HỌC NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

1. Vì sao Mai du học thạc sĩ ngành Quan hệ quốc tế?

“Mình chưa bao giờ nghĩ đến việc du học thạc sĩ cho đến khi mình học năm bốn” – Mai chia sẻ. “Thành thật mà nói, mình nhận thấy ngành Quan hệ quốc tế rất hay và thú vị, nhưng cách tổ chức môn học trong khoa bị dàn trải, làm mình không sớm nhận ra cái hay của ngành”.

Từ đó, lý do đầu tiên để Mai quyết định đi du học, bởi vì Mai nhận thấy ngành Quan hệ quốc tế thú vị, nhưng có lẽ Mai chưa biết gì nhiều về ngành sau bốn năm đại học.

Lý do thứ hai, cũng như bao người ngoài kia, học đại học xong Mai chưa biết ra trường làm công việc gì. Mai đã mang thắc mắc đó đi hỏi thầy cô, và Mai nhận được câu trả lời: “Vì em đang ở Việt Nam nên em mới không thấy được, chứ cơ hội nghề nghiệp của ngành mình ở nước ngoài rất nhiều và đa dạng”.

Thầy đã lấy ví dụ, khi một công ty đa quốc gia chuẩn bị đầu tư vào một đất nước mới, họ sẽ cần đội ngũ rà soát, nghiên cứu về tình hình chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội ở nước đó. Từ đó, công ty mới xác định được đất nước ấy có những đặc điểm gì, công ty có nên đầu tư vào nước đó hay không, nếu quyết định đầu tư thì phải vận hành hệ thống kinh doanh như thế nào cho phù hợp với tình hình đất nước? Nhưng thầy nói thêm, những vị trí làm việc như thế khó có thể tìm được ở Việt Nam, vì công ty đã có sẵn đội ngũ làm việc này ở nước ngoài.

Cuối cùng, Mai suy nghĩ: Nếu mình đi du học, mình sẽ tiếp xúc và tìm được nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn.

Và Mai nhận ra điều đó là đúng đối với Mai. Khi Mai đến Hà Lan, Mai phát hiện rất nhiều lĩnh vực có thể áp dụng kiến thức của ngành Quan hệ quốc tế.

Ảnh: Nhân vật cung cấp

2. Vì sao Mai du học ở Hà Lan – University of Groningen, chuyên ngành International Political Economy (Kinh tế chính trị quốc tế)?

Ban đầu, Mai tìm hiểu thông tin trên internet một cách chung chung, chưa có định hướng. Tuy nhiên, sau khi kết thúc đại học, Mai nhận ra một điều: Những lý thuyết quan hệ quốc tế đa phần xuất phát từ hai nhóm học giả chính: một là nhóm học giả Mỹ, hai là nhóm học giả châu Âu. Vì vậy, ở Mỹ hoặc châu Âu, ngành Quan hệ quốc tế mới là ngành phát triển mạnh. Mai chọn học ở châu Âu, vì Mai thấy môi trường, con người ở châu Âu hiền hòa; chọn đất nước Hà Lan vì người Hà Lan giỏi tiếng Anh. Kể từ đó, khi nộp hồ sơ, Mai chỉ tập trung nộp vào những trường ở Hà Lan.

Mai nộp hồ sơ vào 2-3 trường. Mai kể, có một trường cũng khá ổn nhưng lại thiên về lịch sử (history), và tên ngành cũng là History of International Relations. Mai không chọn trường đó, vì tính cách Mai không hợp với những vấn đề thiên về lịch sử. Mai muốn giải quyết một vấn đề nào đó hơn. Cuối cùng, Mai chọn học ở University of Groningen, trước hết là vì trường có 6 chuyên ngành. Thứ hai, vì trường có bề dày lịch sử lâu đời (hơn 400 năm). Ở Hà Lan, không thiếu những trường đại học có tuổi thọ lâu đời và thuộc top đầu châu Âu. Vì vậy, du học Hà Lan là một lựa chọn hợp lý nếu muốn đảm bảo chắc chắn về chất lượng dạy học.

Mai cũng chia sẻ thêm: Bên cạnh University of Groningen, ở Hà Lan còn có một trường nổi tiếng về ngành Quan hệ quốc tế và cũng chia ra nhiều chuyên ngành, đó là Leiden University. (Bạn xem thêm thông tin về chương trình bậc đại học ở đây và bậc thạc sĩ ở đây). Ở Hà Lan nói riêng và ở châu Âu nói chung, ngành Quan hệ quốc tế phát triển rất mạnh vì sự tương tác nhiều giữa các quốc gia trong tất cả khía cạnh và sự hoạt động mạnh mẽ của các organizations (tổ chức). Vì thế, bạn nào có định hướng du học thạc sĩ/cao học ngành Quan hệ quốc tế thì có thể nghĩ đến việc học ở châu Âu.

Phương Mai chọn học thạc sĩ chuyên ngành International Political Economy (IPE – Kinh tế chính trị quốc tế). Thời đại học, Mai yêu thích nhất môn này. Khi chọn chuyên ngành để học thạc sĩ, Mai chợt nhớ đến môn yêu thích thời đại học. Bên cạnh đó, Mai chưa biết sẽ giải quyết được vấn đề gì khi đi làm, nhưng Mai muốn ra trường sẽ đi làm trong các doanh nghiệp, hơn là theo đuổi con đường học thuật (academic). Mai nghĩ, chuyên ngành IPE sẽ dạy Mai nhiều vấn đề liên quan đến việc đi làm ở doanh nghiệp hơn các chuyên ngành còn lại.

📌Đọc thêm: Syllabus (đề cương môn học) chuyên ngành IPE của Phương Mai, bao gồm các môn bắt buộc và các môn tự chọn:

  • Advanced Theory of International Relations: Môn học dành cho tất cả sinh viên Quan hệ quốc tế, học về các lý thuyết trong Quan hệ quốc tế.
  • Capita International Political Economy: Môn học dành cho sinh viên chuyên ngành IPE, học về lý thuyết riêng của IPE (các lý thuyết giải thích về sự tương tác giữa kinh tế – chính trị).
  • Global Financial Market: Môn tự chọn của Mai – môn học phân tích impact (ảnh hưởng) của global & financial integration đến national system.
  • Political Economy of Migration: Môn tự chọn của Mai, học về political – economic causes & consequences of migration.
  • Multinational Corporations: Môn tự chọn khác, cùng chuyên ngành IPE. Mai không học môn này nhưng bạn của Mai học, thấy hay nên Mai xin tài liệu về xem cho biết – học về impact của các công ty đa quốc gia.
Ảnh: Phương Mai chụp trước trường – University of Groningen – NVCC

3. Những “vỡ lẽ”, khác biệt giữa việc học thạc sĩ ở Hà Lan so với việc học đại học ở Việt Nam.

👉3.1. Các bạn sinh viên xác định rõ “research interest” của bản thân

Mỗi chuyên ngành sẽ có nhiều môn tự chọn. Nếu sinh viên đã xác định được research interest (chủ đề nghiên cứu mình quan tâm) cho luận văn tốt nghiệp, sinh viên dễ dàng chọn môn tự chọn hơn. Còn Mai, vì chưa biết research interest là gì, nên Mai chọn học hai môn tự chọn mà Mai nghĩ có thể áp dụng sau này: Global Financial Market Political Economy of Migration.

Mai bất ngờ và ghen tị với các bạn cùng lớp, khi chỉ mới học 1-2 buổi mà các bạn xác định được research interest, topic (chủ đề) cho bài luận văn tốt nghiệp. Có thể topic chưa quá rõ ràng để làm thành một bài luận văn hoàn chỉnh, nhưng các bạn đã khoanh vùng được đối tượng muốn nghiên cứu, chủ đề muốn tìm hiểu cho luận văn. Còn Mai, Mai hoàn toàn không trả lời được câu hỏi mà giảng viên đặt ra cho Mai trong tiết học đầu tiên “Research topic của em là gì?”. Mai chọn học thạc sĩ, đơn thuần vì Mai thấy kiến thức còn thiếu. Tuy nhiên, các giảng viên đã quen làm việc với các sinh viên châu Âu, nên họ mặc định tất cả sinh viên đã biết được research topic là gì ngay từ lúc mới nhập học.

Research topic/research interest rất quan trọng với bậc thạc sĩ. Khi mình 18, 20 tuổi, mình có thể nói mình chọn đại ngành học. Nhưng khi đã quyết định học thạc sĩ, nghĩa là bỏ ra tiền bạc, thời gian, công sức, mình không được nói mình chọn đại. Quan hệ quốc tế là một ngành rộng, mình cần xác định interest – chủ đề mình quan tâm nhất là gì. Trong lúc học thạc sĩ, mình cần thể hiện sự quan tâm đối với chủ đề ấy, có thể bằng cách chọn các môn học chung chủ đề. Khi tìm kiếm việc thực tập, mình sẽ dễ tìm được việc đúng như mong muốn. Ví dụ một người bạn của mình cũng ứng tuyển thực tập lĩnh vực Sustainability, nhưng công ty không nhận vì trong quá trình học, bạn ấy chưa thể hiện được sự quan tâm đến chủ đề này”. – Mai chia sẻ.

Về việc chưa biết định hướng chủ đề cho bài luận văn, nói rộng ra là khó xác định được phương hướng học tập, làm việc, Mai nói: “Nếu có bạn nào học Quan hệ quốc tế than thở với mình: “Học xong không biết làm gì cả”, mình rất hiểu và chia sẻ điều đó, vì một phần do chương trình đại học dạy khá nhiều môn, cả những môn không liên quan đến Quan hệ quốc tế, ví dụ như Văn hóa giao tiếp, Marketing,… Khi môn học dạy mình tất cả mọi thứ, mình biết tất cả nhưng thật khó nhận ra mình có thể làm gì”.

Nhiều lúc, Mai nghĩ mình gặp bất lợi, khi chương trình đại học dạy một cách dàn trải, mỗi môn cung cấp một ít kiến thức trong từng lĩnh vực khác nhau. Môn học Lý thuyết Quan hệ quốc tế (Theory of International Relations) là môn nền tảng của ngành nhưng đến năm tư Mai mới học và đó còn là môn tự chọn.

Dù cho Mai tốt nghiệp đại học thủ khoa đi chăng nữa, trường Groningen bắt buộc Mai nộp danh sách các môn đã học ở đại học, kèm theo mô tả chi tiết từng môn. Kết quả, trường vẫn nhận Mai vào học, kèm theo nhận xét: “Em học quá ít môn liên quan Quan hệ quốc tế”. Sau đó, trường gửi cho Mai danh mục tài liệu tham khảo với rất nhiều đầu sách, tài liệu khác nhau, để Mai có thể tự mình trang bị kiến thức trước khi nhập học. Sau này, Mai mới biết chỉ một mình trường hợp của Mai mới được trường yêu cầu làm điều đó. “Trường “chê” mình học quá ít môn Quan hệ quốc tế. Các sinh viên đến từ nước khác thì lại không “bị” yêu cầu như mình”. – Mai cười bảo.

Thoạt đầu, Mai nghĩ mình gặp bất lợi khi đại học không dạy nhiều môn liên quan Quan hệ quốc tế. “Tuy nhiên, mình đã nói chuyện với bạn cùng lớp. Bạn ấy cũng du học thạc sĩ như mình. Bạn cho rằng, vì môi trường, tình hình xã hội, nhu cầu tuyển dụng ở Việt Nam khác với nước ngoài, cho nên khoa mình mới mở ra nhiều môn, nhiều lớp với khối kiến thức khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mình thấy điều bạn phân tích cũng có lý”.

“Việc xác định rõ ràng interest cho luận văn có lẽ chỉ áp dụng với bậc thạc sĩ, còn nếu đòi hỏi sinh viên đại học xác định được ngay, e là hơi khó” – Mai nói.

Sau những buổi học đầu tiên, Mai đã hỏi han các bạn cùng lớp về chủ đề cho bài luận văn của các bạn. Từ đây, Mai nhận ra có vô vàn chủ đề liên quan đến Quan hệ quốc tế, và có thể áp dụng kiến thức của ngành vào nhiều vấn đề khác nhau.

Ảnh: Làng cổ Giethoorn, Hà Lan – NVCC

👉3.2. Vượt ra khỏi khuôn khổ Quan hệ quốc tế

“Ở Việt Nam, mình được dạy rất nhiều khái niệm “truyền thống” liên quan đến Quan hệ quốc tế.

Lúc làm nghiên cứu khoa học, các bạn hay nghĩ đến những vấn đề “thuần” chính trị, ví dụ cân bằng quyền lực giữa các nước, nước mạnh, nước yếu. Cứ nhắc đến Quan hệ quốc tế là người ta liền nghĩ đến những lĩnh vực vô cùng “ngoại giao”. Đó là những kiến thức cơ bản, mình không phủ nhận điều đó. Nhưng Quan hệ quốc tế không chỉ có “power – quyền lực”, “balance of power – cân bằng quyền lực”, kẻ ác – kẻ mạnh trong chủ nghĩa hiện thực (realism), mà mình còn có thể kết nối Quan hệ quốc tế với những lĩnh vực khác trong cuộc sống. Một người bạn trong lớp thạc sĩ của mình, bạn ấy dùng kiến thức Quan hệ quốc tế để giải quyết vấn đề môi trường ở Bắc Cực, so sánh knowledge practice giữa một NGO Đức và một NGO Trung Quốc” – Mai kể.

Các bạn cùng lớp thạc sĩ của Mai có research topic (chủ đề nghiên cứu) đa dạng nhưng vẫn nằm trong phạm vi Quan hệ quốc tế. Từ đó, Mai nhận thấy: Các bạn cùng lớp khi nghĩ về Quan hệ quốc tế, họ có cái nhìn rộng hơn, xa hơn, không chỉ gói gọn trong những vấn đề quen thuộc như quyền lực, kẻ yếu, kẻ mạnh.

Mai nói: “Từ khi học thạc sĩ ở Hà Lan, mình thấy người ta ít nhắc đến những vấn đề “truyền thống” như kẻ mạnh, kẻ yếu, chủ nghĩa hiện thực, quyền lực. Hiện tại, ở châu Âu đang là “thời” của knowledge, norms, common understanding hơn là power. Ví dụ như sustainability cũng chỉ là một norm. Người ta trông đợi con người sống có trách nhiệm xã hội hơn, thay vì có một kẻ độc ác đứng ra ép buộc theo cách hiểu của chủ nghĩa hiện thực”.

“Cũng không hề gì nếu như bạn chưa biết chính xác điểm đến, chưa biết research topic là gì. Cũng không sao nếu như bạn thấy suy nghĩ vẫn còn bó hẹp trong khuôn khổ. Có thể do một phần trên lớp bạn thường xuyên tiếp xúc với các khái niệm quen thuộc kể trên. Nhưng bạn và mình có thể tự tìm tòi thêm tài liệu, tiếp xúc với những quan điểm khác nhau bằng cách tự tìm kiếm, học hỏi. Rồi chúng mình sẽ nhận ra, “vỡ lẽ” trên hành trình đang đi” – Mai tâm sự.

📌Đọc thêm:

  • Về khái niệm knowledge practice: Để xây dựng một chính sách (policy) đúng đắn, bản thân phải có kiến thức đầy đủ (knowledge for better decision-making). Knowledge này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau (history, experience, interests) và có methodologies khác nhau; knowledge lại có nhiều loại như scientific knowledge, global knowledge, local knowledge. Vì vậy, lựa chọn vận dụng loại kiến thức nào sẽ ảnh hưởng đến quyết định. Trong trường hợp bài viết của bạn Mai, việc áp dụng scientific knowledge (kết quả từ những nhà nghiên cứu) có thể làm mờ đi indigenous methodologies hoặc inter-generational local knowledge (kiến thức của những người sống ở Bắc Cực được tích lũy qua nhiều đời).
  • Bạn có thể đọc sơ lược bài viết của bạn Mai ở đây
  • Về khái niệm norms, common understanding: là những kì vọng về việc chủ thể quốc gia và chủ thể phi quốc gia sẽ có hành vi phù hợp trong môi trường quốc tế.

Nếu bạn là một sinh viên năm nhất, năm hai của ngành Quan hệ quốc tế, đừng cảm thấy hoang mang khi đọc những khái niệm ở trên. Những khái niệm ấy sẽ được giới thiệu cho bạn nếu bạn học chuyên ngành Chính trị, ngoại giao, hoặc khi bạn đã có kiến thức nền của ngành, chọn học sâu hơn về Lý thuyết Quan hệ quốc tế.

Ảnh: Phương Mai trong lần ghé thăm làng cổ Giethoorn, Hà Lan – NVCC

4. Người ta dạy Mai về ngành Quan hệ quốc tế như thế nào?

👉4.1. Luôn chuẩn bị bài trước khi lên lớp

Nếu bạn đã học với những thầy cô nghiêm khắc – những giảng viên bắt bạn phải đọc giáo trình trước khi lên lớp, bạn sẽ không thấy lạ lẫm khi du học. Ở Việt Nam, thầy cô vẫn có thể tặc lưỡi cho qua nếu bạn không chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Nhưng khi học ở nước ngoài, bạn bắt buộc hoàn thành trước các bài đọc, có khi là những tài liệu một trăm trang, chỉ để ngồi hai tiếng trong lớp.

Thầy cô ở đây chỉ là người quản lý, điều hành, dẫn dắt buổi học (nguyên văn: moderator), để các thành viên trong lớp tự do phát biểu ý kiến. Đó có thể là những lời đồng ý, cũng có khi sinh viên không cùng quan điểm với nhau. Cũng có những lúc cả lớp không trả lời được câu nào. Lúc này, giảng viên chỉ nói: “Tôi không thể đưa cho các bạn câu trả lời chính xác” (I cannot give you the answer). Thầy cô chỉ giúp sinh viên học tập (help you learn) chứ không bao giờ đưa ra đáp án. “Điều này khác ở Việt Nam, khi mình đã quen với việc thầy cô cung cấp đáp án bài làm cho mình”. Bên cạnh đó, Mai nhận thấy ở Việt Nam, luôn có tình trạng người học đến lớp với tâm thế phụ thuộc thầy cô, nghĩa là lên lớp với một cái đầu “rỗng”, chỉ chờ được thầy cô “đổ đầy” kiến thức, mà bản thân không có một sự chuẩn bị nào, không xem trước bài hoặc tìm hiểu bài trước.

👉4.2. Tìm hiểu, học hỏi quan điểm của người khác dựa trên suy nghĩ độc lập của bản thân

Khi học đại học, Mai thường nhận được câu hỏi từ thầy cô: “Tác giả đã viết những gì trong bài đọc?”. Còn khi học thạc sĩ, thầy cô hỏi sinh viên: “Bạn nghĩ gì về những điều tác giả đã viết? Bạn đồng ý hay không đồng ý với tác giả? Bạn thích điều gì và không thích điều gì của bài đọc? Lý do vì sao?”. Điều này có nghĩa, sinh viên cần có thói quen đọc bài và nêu lên quan điểm của riêng mình, chứ không phải đọc những điều người khác viết, chịu ảnh hưởng bởi chúng và răm rắp tin theo.

Mai kể, ban đầu Mai không trả lời được mình đồng ý hay không đồng ý với các học giả. Mai không làm sao biết được mình thích hay không thích những quan điểm được nêu ra trong bài. Nhưng từ việc lắng nghe những người bạn trong lớp trình bày ý kiến, Mai học được cách phản biện và dần dần biết nêu lên quan điểm của mình. Sẽ không có đúng hay sai ở đây, chỉ cần biết nói lên ý kiến thay vì một mực tuân theo lời tác giả.

👉4.3. Lý thuyết Quan hệ quốc tế thiếu sót tính “quốc tế”

Mai nhắc đến một vấn đề mà bấy lâu nay luôn được mang ra xem xét: Các lý thuyết Quan hệ quốc tế xuất phát từ các học giả Mỹ hoặc châu Âu, vì vậy sẽ có đôi lúc những lý thuyết ấy không giải thích được những trường hợp đang xảy ra ở châu lục khác – những nơi có hoàn cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội khác hẳn Mỹ, châu Âu (ví dụ như vấn đề Việt Nam – Trung Quốc). 

Ở trong lớp Mai, mọi người thường đặt vấn đề: Các lý thuyết quan hệ quốc tế đã và đang “Eurocentric”. Nghĩa là, các lý thuyết được quan sát và tạo nên bởi những người châu Âu, do người châu Âu làm ra. Người châu Âu làm sao biết rõ những khu vực khác của thế giới và họ có thể cũng không biết những lý thuyết ấy áp dụng được với phần còn lại của thế giới hay không. 

Mai ngạc nhiên. Mặc dù Mai sống ở Việt Nam nhưng Mai chưa bao giờ nghĩ đến vấn đề trên. Mai tiếp nhận những kiến thức lý thuyết quan hệ quốc tế và áp dụng vào những vấn đề bên ngoài châu Âu mà chưa xét lại, liệu lý thuyết đến từ châu Âu có phù hợp với tình hình thực tại ở Việt Nam? Mai chấp nhận những lý thuyết trên như một lẽ hiển nhiên. Và sau này khi nhìn lại, Mai bắt đầu lật ngược vấn đề: Các lý thuyết cơ bản như Chủ nghĩa hiện thực (Realism), chủ nghĩa tự do (Liberalism) là “xương sống” của ngành Quan hệ quốc tế, nhưng không phải lúc nào cũng mang lý thuyết ấy để giải thích cho vấn đề thực tại. Những người Mỹ, châu Âu khi ấy đã đến Việt Nam chưa, đã sinh sống ở đây để hiểu rõ con người Việt Nam, để có thể rút ra lý thuyết (theory) liên quan đến khu vực này? Những lý luận của họ rút ra từ thực tế như thế nào, có đáng tin không, có tính bao quát hay không? Từ những câu hỏi trên, Mai nhận thấy tư tưởng bản thân được mở rộng hơn.

Ảnh: Phương Mai trong học kỳ trao đổi tại University of Iasi (Romania) – Chương trình “Eastern European Perspectives”, học về tình hình kinh tế-chính trị-văn hoá của các nước Đông Âu. Trong hình là Mai và các bạn cùng khóa.

5. Chia sẻ của Phương Mai dành cho các bạn có định hướng du học

Đối với Mai, tính cách cần có để đi học nước ngoài chính là sự tự lập. “Nhắc đến tự lập, người ta thường nhắc tới việc biết nấu ăn hoặc có khả năng tự làm ra tiền. Nhưng tự lập còn có nghĩa là độc lập trong suy nghĩ, không bị ảnh hưởng bởi quan điểm của bất cứ ai, biết tự đặt câu hỏi cho những vấn đề thoạt nhìn tưởng như không có gì. Nếu mình là người độc lập trong suy nghĩ, mình có thể thích nghi ngay với môi trường du học; còn nếu chưa, mình có thể bắt đầu tập trước khi mình qua nước ngoài. Việc này hoàn toàn luyện tập được nếu mình muốn”.

Tư duy phản biện nhiều khi không xa vời như mình hay nghĩ” – Mai chia sẻ. Lúc mới qua Hà Lan, Mai không trả lời được những câu hỏi của giảng viên đặt ra trong lớp, trong khi các bạn cùng lớp giơ tay phát biểu rào rào như vỡ trận. Mai mang chuyện này chia sẻ với thầy giáo ở Việt Nam (Thầy Nguyễn Thành Trung – Bài viết Quan hệ quốc tế ơi, mình làm gì thế? #1 Giảng viên đại học – Người chuyên chở ước mơ), Mai nhận được câu trả lời: “Thầy không khác gì em lúc đó. Lúc mới qua nước ngoài học, các bạn cùng lớp đua nhau giơ tay trả lời câu hỏi, trong khi thầy không biết phải nói gì. Nhưng cô giáo của thầy động viên “Đừng sợ, em cứ nói những gì em biết, cứ thoải mái đáp lại những câu nói của người khác”. Dần dà thầy đã nói được suy nghĩ của thầy. Cứ như thế, đến một hôm thầy suy xét lại, cũng giống hệt như em, những điều các bạn trong lớp nói được thì mình còn có thể nói tốt hơn thế; những học giả Mỹ và châu Âu sống ở môi trường, đất nước của họ, họ có đến vùng châu Á hay những vùng khác chưa, họ nhìn thế giới bằng con mắt người Mỹ, châu Âu, làm sao có thể áp dụng lý thuyết của họ một cách máy móc lên những vấn đề của nước mình?”.

Cho phép bản thân chủ động đặt câu hỏi, trả lời bằng tất cả vốn kiến thức hiện có, Mai nhận thấy tư duy phản biện không hề cao xa vời vợi, không thể chạm tới được.

Ảnh: Phương Mai trong lần ghé thăm thành phố Leiden – NVCC

III. NHỮNG CHIA SẺ CỦA PHƯƠNG MAI VỀ NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

1. Vì sao Mai chọn học đại học ngành Quan hệ quốc tế?

“Lúc 18 tuổi, thật ra mình không biết gì đâu” – Mai nói. Mai chỉ thấy Mai mạnh về các môn xã hội, và nhắc đến các môn xã hội thì Mai chỉ nghĩ đến trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Sau khi xem danh sách các ngành học, Mai nghĩ về việc bấy lâu nay luôn muốn nhìn ra xa hơn, rộng hơn nơi mình đang sống, để xem thế giới ngoài kia đang có những vấn đề gì, con người ta đang sống như thế nào (nguyên văn: nhìn rộng hơn, xa hơn – see beyond). Mai nghĩ rằng ngành Quan hệ quốc tế sẽ giúp Mai làm những điều đó.

Khi chọn ngành Quan hệ quốc tế, Mai chưa nghĩ được sau khi ra trường sẽ làm việc gì, ở đâu. Nhưng Mai không gặp áp lực, không stress vì điều đó, vì Mai nghĩ: “Mình sẽ tìm được định hướng trên con đường đang đi”.

“Có những người biết được định hướng, sau đó mới chọn ngành, chọn môn, chọn nghề. Nhưng lại có những người chọn ngành trước rồi trong lúc học, lúc làm, mới nhận ra mình thích điều đó hay không. Đó là điều bình thường” – Mai bày tỏ. “Các bạn đừng đặt nặng việc phải nhận ra cho bằng được sau này sẽ làm công việc gì, điều gì là điều mình yêu thích nhất. Vì sự yêu thích, đam mê, hay những việc mình muốn làm, sẽ xảy ra dọc đường, trong lúc bạn đang bước chân đi, khi bạn đã tích lũy thêm nhiều kiến thức hơn”.

Ảnh: Phương Mai trong lễ tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, năm 2019 – NVCC

2. Trong lúc học, có bao giờ Mai băn khoăn về định hướng nghề nghiệp? Nếu có, Mai đã làm gì để vượt qua sự lo lắng ấy mà vẫn có thể chuyên tâm học tập? Phương pháp học tập của thủ khoa là gì?

“Có chứ, đã rất nhiều lần mình tự hỏi, nếu như mình học Ngoại thương hay Luật, lẽ nào định hướng nghề nghiệp của mình sẽ rõ ràng hơn?” – Mai chia sẻ. Tuy nhiên, lý do lớn nhất đã làm Mai không cảm thấy chán nản trong lúc học tập, chính là sự kiên trì. Điều đó có nghĩa, khi Mai đã chọn đi một con đường nào, Mai sẽ đi cho bằng hết con đường ấy.

Về phương pháp học tập, Mai nói: “Thật ra mình chẳng có phương pháp gì. Cách học của mỗi người sẽ khác nhau, dựa trên nhiều yếu tố hợp thành, ví dụ như tính cách, sở trường. Phương pháp của một người không thể áp dụng cho đại đa số”.

Sau buổi trò chuyện, Mai gửi cho tôi một email khá dài, tập trung trả lời câu hỏi “Làm sao Mai đã có thể học tập tốt ở môi trường đại học?”. Mai chia sẻ: Ban đầu, Mai trả lời rằng Mai không có phương pháp học tập đặc biệt, vì sự thật Mai chỉ lên lớp, nghe giảng, ghi chép, về nhà thì tìm kiếm tài liệu trên internet và làm bài tập như những bạn khác.

Tuy nhiên, Mai nhấn mạnh, yếu tố giúp Mai học tập không phải là phương pháp, mà chính là “mindset” – cách Mai suy nghĩ, nhận thức (nguyên văn: “Mình nghĩ yếu tố chính giúp mình học tốt, đó là “mindset” hơn là phương pháp”).

Hai quan điểm chính của Mai về việc học tập, đó là:

👉Thứ nhất: Xác định ưu tiên của bản thân

Ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, con người ta sẽ có những mối ưu tiên khác nhau (học tập/kiếm tiền/thăng tiến trong sự nghiệp/tập trung cho gia đình). Giai đoạn từ 18-22 tuổi, Mai xác định ưu tiên của Mai là việc học. Vì vậy, Mai sẽ dành nhiều thời gian và công sức tối đa cho việc học đó. May mắn thay, Mai tự nhận xét, vào giai đoạn đó hoàn cảnh gia đình và cá nhân của Mai không gặp trở ngại nào, vì vậy Mai có thể chuyên tâm học hành.

Mai có những người bạn mà mối ưu tiên năm 18-22 tuổi của họ là kiếm tiền lo cho gia đình. Lại có những người bạn ưu tiên đi làm lấy kinh nghiệm, trải nghiệm.Thế thì họ sẽ dành tâm sức nhiều nhất cho việc thực tập hoặc đi làm thêm. Mai rút ra một điều, mỗi người sẽ có một hoàn cảnh khác nhau. Nếu muốn làm tốt việc gì, mình chỉ cần xem xét các ưu tiên trong từng giai đoạn cuộc đời, việc nào mình cần đặt lên hàng đầu và cố gắng hết sức vì nó.

👉Thứ hai: Suy nghĩ “Trong việc học, mình là chủ thể chính”, nghĩa là nếu mình muốn học tốt, thì người tạo ra điều đó phải là chính mình, chứ không phải là thầy cô hoặc giáo trình.

Từ suy nghĩ trên, Mai đã có hai hành động chính, và đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi của tôi dành cho Mai: “Làm sao Mai có thể học tốt, không nản lòng khi trong khoa tồn đọng nhiều vấn đề làm sinh viên thấy không hài lòng?”.

Hành động 1: Thời gian tự học phải nhiều hơn thời gian học trên lớp

Với suy nghĩ “Trong việc học, mình là chủ thể chính”, Mai chủ động tự học nhiều hơn. Khi học đại học và cao học, mỗi môn có khi chỉ lên lớp 2-4 tiếng/tuần. Thầy cô chỉ là người dạy cho sinh viên cách học chứ không thể giúp sinh viên thu nạp kiến thức. Vì thế, Mai luôn dành thời gian xem lại bài trên lớp và tự nghiền ngẫm thêm khi về nhà. Còn khi học cao học, yêu cầu tự học càng cao hơn. Để lên lớp 2 tiếng/tuần, Mai phải dành từ 6-8 tiếng để tự học môn đó. Khi học cấp ba, việc tự học này là bắt buộc thông qua hình thức bài tập về nhà. Còn khi học đại học, cao học, không ai kiểm tra và ép buộc mình học tập, nên mình phải tự giác nhiều hơn.

Hành động 2: Tâm lý không đổ lỗi

Mai đã xác định bản thân là yếu tố chính của việc học, nên sự thành bại phần lớn là do bản thân. Mai đã không để những câu chuyện ngoài lề khác làm Mai khó chịu hay chán nản, căm ghét việc học trên lớp. Mai ngừng đổ lỗi giáo viên dạy không hay, giáo trình dở. Mai tập trung vào bản thân nhiều hơn. “Điều đó sẽ giúp mình giảm đi những cảm xúc tiêu cực và chuyên tâm học tốt” – Mai tâm sự.

Mai kể, việc Mai không đổ lỗi cho hoàn cảnh xuất phát từ tấm gương của ba Mai. Ngày ấy, ba Mai thi đại học tận ba lần. Cả ba lần điểm thi đều xuất sắc vượt xa điểm chuẩn đầu vào, nhưng sau cả ba lần ba Mai vẫn không được đi học vì lý do: lí lịch. Thi đại học lần đầu tiên vào năm 1981, đến tận năm 1988, ba Mai mới có thể bước chân vào giảng đường đại học sau nhiều lần cố gắng không ngừng nghỉ. Câu chuyện của ba là nguồn cảm hứng bất tận cho Mai, để Mai hiểu được: Trong bất kỳ hoàn cảnh, môi trường nào, nỗ lực bản thân mới là điều quan trọng nhất.

📌Đọc thêm: Câu chuyện của ba Mai về 3 lần đạt điểm thi xuất sắc nhưng vẫn không được học đại học – Báo Thanh Niên: Kỳ 1, Báo Thanh Niên: Kỳ 2, Báo Thanh Niên: Kỳ 3, cùng một số bài báo khác: Bài 1, Bài 2Bài 3.

Ảnh: Phương Mai trong ngày nhận bằng thạc sĩ – NVCC

3. Sinh viên nên chuyên tâm học nhiều hơn hay đi làm nhiều hơn để có kinh nghiệm? Làm sao Mai có thể phân bố thời gian để vừa hoàn thành việc học, lại có thể đi làm thêm và tham gia hoạt động ngoại khóa?

Mai không phải kiểu sinh viên “mọt sách” – chỉ chú tâm vào học mà không có bất cứ kỹ năng mềm nào trong tay. Tôi có thể tự tin khẳng định như thế, vì xuyên suốt quá trình học, tôi luôn thấy bạn học tập tốt trên lớp, lại còn tham gia một số hoạt động ngoại khóa, cũng như không bỏ công việc làm thêm khi bạn đang học năm tư – thời điểm sinh viên cần sự tập trung nhất định để hoàn thành quá trình học. 

“Thật ra lúc đó mình cũng thấy mình bận bịu. Sáng đi học trên trường, chiều làm bài tập, tối đi dạy thêm, đi làm về thì ngồi lên máy tính để chuẩn bị hồ sơ du học. Cuối tuần mình còn tham gia câu lạc bộ đàn tranh và sinh hoạt hướng đạo. Nghĩ lại, mình không hề khuyến khích các bạn khác bắt chước sự bận rộn ấy. Những việc đó dễ làm chúng mình hao tổn sức lực; mỗi người lại có hoàn cảnh và mục đích khác nhau”. 

Mai chia sẻ thêm, “Mình chỉ cần xác định được ưu tiên của mình trong thời điểm ấy là gì. Trong mỗi giai đoạn, mình sẽ có một việc cần làm khác nhau. Mình chưa bao giờ xem việc đi làm trong khi học đại học là ưu tiên hàng đầu. Đi làm thêm đối với mình là để trải nghiệm, có thêm một ít tiền tiêu vặt. Mình nghĩ, đại học là quãng thời gian tốt nhất để mình có thể chuyên tâm học tập. Mình có hàng chục năm sau này chỉ để đi làm mà”. 

“Có vài bạn tâm sự với mình, biết vậy hồi đó chịu học nhiều hơn. Tại sao thời đại học có thời gian để học tiếng Anh, thì bạn lại không học, để giờ đây mỗi ngày đi làm về đã 7-8 giờ tối, thật khó để ngồi vô bàn học. Cũng có những bạn kể với mình, phải chi lúc đó chịu khó lấy được cái bằng, thì bây giờ có thể dễ dàng tìm việc mà không phải đắn đo, xem xét người ta có nhận mình hay không, kể cả khi mình có năng lực nhưng trong tay mình không có tấm bằng”. 

Mai kết luận, vì Mai ưu tiên việc học trong quãng thời gian 18-22 tuổi, nên Mai không để những việc khác như đi làm thêm, tham gia hoạt động ngoại khóa làm gián đoạn việc học. Đối với Mai, đi làm hoặc tham gia hoạt động chỉ là những việc để trải nghiệm, làm dày vốn sống. Mai không ngừng nhấn mạnh, mỗi người sẽ có một quan điểm, hoàn cảnh và ưu tiên khác nhau theo từng giai đoạn, nên Mai không muốn suy nghĩ và hành động của Mai là sự áp đặt lên người khác. Chỉ cần mỗi người biết được ưu tiên hiện giờ của họ là gì.

Ảnh: Nhân vật cung cấp

4. Học Quan hệ quốc tế xong ra trường làm gì?

Khi tân cử nhân bước vào một doanh nghiệp, không ông chủ nào lại hỏi: “Hãy phân tích cho tôi tình hình giữa Việt Nam và Trung Quốc”. “Mình không bao giờ áp dụng kiến thức vào thực tiễn theo cách như thế”. Mai nói, “Thay vào đó, những điều mà sinh viên Quan hệ quốc tế có được là cách tư duy. Nếu học tập một cách nghiêm túc, các bạn sinh viên sẽ có ý thức cũng như biết cách giải quyết các vấn đề phức tạp, liên đới nhiều bên khác nhau”. 

Ví dụ như nạn chặt phá rừng, vừa liên quan đến doanh nghiệp, vừa liên quan đến người dân sinh sống tại nơi đó, liên quan đến các NGOs, và liên quan đến cả chính phủ. Mai từng thực hiện một dự án ở công ty liên quan đến vấn đề chặt phá rừng này. Khi ấy, EU ra quy định: Các công ty không được nhập nguồn hàng có liên quan đến việc chặt phá rừng. Nhưng khi Mai đọc văn bản quy định trên, Mai cảm thấy văn bản bị thiếu sót ở khái niệm định nghĩa thế nào là “rừng”. Đối với quy định EU, “rừng” là khu vực từ 0.5 héc-ta trở lên, cây cao hơn 5m và vòm tán lá hơn 10% diện tích. Nhưng giả sử bây giờ đối tác công ty tàn phá khu vực đồng cỏ xavan (savannah) thì phải giải quyết như thế nào? Công ty vẫn phải nghiên cứu và xem xét tất cả các trường hợp không có quy định trong văn bản, vì công ty không muốn tiếp tay vào việc phá hoại bất cứ hệ sinh thái nào.

Kết nối với những kiến thức được học về Nghiên cứu khoa học, Mai đã tham khảo tư liệu (guidelines, frameworks) từ nhiều tổ chức quốc tế khác nhau và chọn ra cách thực thi phù hợp nhất áp dụng vào trường hợp công ty đang đối mặt, hoặc chọn cách tự xây dựng phương pháp, và nếu đã tự xây nên phương pháp thì cần biết cách thực hiện hiệu quả.

“Như vậy, các bạn sinh viên hãy cứ học và làm, vì ngành Quan hệ quốc tế giúp bạn có khả năng tư duy, nhìn nhận những vấn đề phức tạp khác nhau, và tự tìm ra cách giải quyết thỏa đáng nhất. Học đại học hay thạc sĩ, không chỉ là nạp kiến thức vào đầu, mà còn là học cách giải quyết vấn đề” – Mai nói.

Ảnh: Nhân vật cung cấp

5. Có điều gì Mai muốn thay đổi nếu được trở lại thời sinh viên?

Nếu có việc muốn thay đổi, Mai mong rằng không khí lớp học có thể đổi khác, nhiều câu hỏi được đặt ra và nhiều câu trả lời thỏa đáng hơn. Hồi đại học, nhiều lần Mai đặt câu hỏi cho nhóm khác sau khi họ thuyết trình. Nhưng có lẽ nhiều bạn không quen với điều đó, thậm chí họ rất ngại mỗi khi thấy Mai giơ tay phát biểu, dè chừng Mai sẽ hỏi những câu khó. “Những gì mình thích không có nghĩa người khác cũng thích. Mình muốn thay đổi nhưng mình không chắc ai cũng muốn điều đó. Bạn của mình “ghét” mình lắm, vì mình suốt ngày vặn vẹo nó. Lúc làm bài nghiên cứu khoa học, mình hay phản biện lại bạn cùng nhóm, ví dụ như đoạn này viết chưa được, đoạn này không liên quan gì đến đề bài. Vậy nên bạn thân của mình nói mình sống khắc nghiệt” – Mai cười bảo.

Học đại học ở Việt Nam, Mai được nhận xét là “hỏi quá nhiều”. Nhưng khi học thạc sĩ ở nước ngoài, người ta bảo Mai “hỏi quá ít”. Vì vậy, “Nếu muốn đi du học, bạn cần xem xét tính cách bản thân như thế nào. Nếu bạn suy nghĩ độc lập, thích tranh luận phản biện, có thể bạn sẽ thích nghi nhanh với môi trường mới. Còn nếu không, bạn hoàn toàn có thể luyện tập ngay từ bây giờ, nếu muốn. Sẽ không có chuyện đúng hay sai ở đây. Tính cách mỗi người rất khác nhau và mỗi người có riêng một con đường đi”.

Ảnh: Nhân vật cung cấp

IV. LỜI NHẮN NHỦ CỦA PHƯƠNG MAI DÀNH CHO CÁC BẠN SINH VIÊN

Mai chưa bao giờ khẳng định Mai đã tìm ra hướng đi trong suốt quãng đời còn lại. Mai từng không biết ra trường làm việc gì, đắn đo phân vân giữa việc tốt nghiệp đi làm ngay hay là đi học thạc sĩ. Tuy nhiên, sau khi ra trường một thời gian và học thêm nhiều điều mới, Mai chia sẻ: 

“Các bạn đừng buồn hay nản chí nếu chưa xác định được phương hướng. Đó không phải hoàn toàn do lỗi của bạn. Khi mình du học, mình thấy rõ các bạn trẻ ở nước ngoài, cụ thể là Hà Lan – nơi mình đang sinh sống, họ có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm hướng đi hơn. Ví dụ, các sinh viên Hà Lan chỉ cần đóng học phí rất thấp, thậm chí chính phủ còn cho tiền sinh hoạt và đi lại. Họ không phải lo kiếm tiền để rồi gián đoạn việc học. Nếu học trúng ngành không yêu thích, sinh viên có thể chuyển đổi ngay. 

Còn ở Việt Nam, học đại học là một sự tốn kém, gia đình phải nỗ lực tài chính rất nhiều. Việc chuyển đổi ngành học sẽ khó khăn hơn khi mỗi trường có những quy định khác nhau. Nhịp sống ở châu Âu tương đối chậm, không hối hả như ở Việt Nam; chủ nghĩa cá nhân cao nên các bạn trẻ châu Âu tự do làm điều các bạn muốn, không vướng bận hoàn cảnh. Ở Việt Nam, các bạn trẻ vừa ra trường sẽ gặp áp lực tìm kiếm việc làm, lo cho bản thân, cho gia đình. Có thể không ai gây áp lực lên bạn nhưng dần dà bạn dễ rơi vào áp lực ấy. Còn ở những nước châu Âu, sinh viên ra trường mà chưa đi làm ngay là chuyện bình thường. Các bạn ấy vì không vướng bận hoàn cảnh nên các bạn có thể học thêm ngành khác, thực tập ở nhiều nơi, đi du lịch khám phá nhiều vùng đất. Giai đoạn “young adult” dài hơn, vì vậy nếu bạn thấy ai đó ở châu Âu đi thực tập hoặc ứng tuyển làm trainee (nhân viên tập sự) vào năm 30 tuổi là điều hết sức bình thường.

Bên cạnh đó, như mình cũng đã chia sẻ: Không vì hoàn cảnh mà đổ lỗi. Các bạn đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho bản thân, hay sợ hãi khi chưa biết mình muốn làm gì. Bạn cứ cho bản thân thời gian và cơ hội. Hiểu rằng việc mình chưa xác định hướng đi không có gì là sai hay thua kém người khác.

Tuy nhiên, không vì thế mà cho phép bản thân giậm chân tại chỗ. Đối với mình, phương hướng không tự động rơi xuống đầu như việc chờ sung rụng. Có một cách nghĩ mình rất thích, đó là nếu mình chưa thấy lối ra, đừng sợ. Mình có vẫn nhìn thấy bàn chân mình nếu mình buớc lên một bước không? Vậy thì cứ bước tiếp bước đó. Có thể mình chưa tìm thấy hướng đi ngay tắp lự, nhưng ít ra mỗi ngày đều phải cố gắng. Giống như khi mình chưa xác định được research question cho bài luận văn tốt nghiệp, cô giáo đã khuyến khích: “Con đừng lo, chỉ cần mỗi ngày con đều nghĩ về nó, con sẽ tìm ra được”. Cũng giống như mình phát hiện công việc hiện tại trong lúc rải hồ sơ khắp nơi để tìm kiếm một công việc trong suốt quãng thời gian dài và không ngừng làm những bài tập, bài phỏng vấn khác nhau”.

“Mỗi ngày đều phải cố gắng, mỗi ngày đều nghĩ về điều bạn muốn tìm ra, tiếp tục bước đi thì bạn sẽ tìm được nó”.

Bạn có thể đọc thêm phiên bản Facebook của bài viết tại đây: https://bit.ly/QHQT_NguyenPhuongMai

Tất cả nội dung và hình ảnh trong bài viết đều dùng cho mục đích phi lợi nhuận và nhận được đồng ý của nhân vật được phỏng vấn. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo, sao chép vì mục đích thương mại.

Leave a comment