Vào tháng 3 năm 2020, fanpage Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân Văn TP.HCM đưa tin về một cựu sinh viên ngành Quan hệ quốc tế trở thành thuyền viên người Việt đầu tiên làm việc trên du thuyền 6 sao cao cấp nhất nước Mỹ – Regent Seven Seas Cruises. Bên dưới bài viết, hàng trăm bình luận tấm tắc khen ngợi. Nhiều người tag bạn bè vào, nói với nhau: “Học ngành Quan hệ quốc tế nè”. Tôi hiểu, câu chuyện tạo được sức lan tỏa bởi vì nghề nghiệp thuyền viên trên tàu nước ngoài quá đỗi mới mẻ.
Tôi thắc mắc: “Làm thuyền viên là làm gì? Tại sao lại chọn công việc mới lạ này?”. Tôi chưa bao giờ nghĩ, một người trẻ mới ra trường sẽ chọn công việc lênh đênh trên biển khơi, đi qua nhiều đất nước như thế. Đọc qua những bài báo viết về chị, tôi không khỏi tò mò về quyết định táo bạo đó.
Tìm hiểu về chị, tôi biết được chị từng ở Ấn Độ để học về yoga. Và gần đây, khi thấy chị đăng bài tuyển dụng cho công ty của chị ở Malaysia, tôi càng tò mò hơn về hành trình của chị sau ngày ra trường.
Ngày hôm nay, hãy cùng tôi lắng nghe câu chuyện của chị Nguyễn Thị Phương Trinh – cựu sinh viên ngành Quan hệ quốc tế khóa thứ 11, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, để hiểu được điều chị muốn gửi gắm: Đừng bao giờ bỏ qua những sở thích nhỏ nhặt nhất.

Em chào chị Trinh. Chị giới thiệu một chút về bản thân nhé.
Chào em. Chị là Phương Trinh. Ở chỗ chị sống hiện tại, mọi người hay gọi chị là Trinity. Chị là cựu sinh viên ngành Quan hệ quốc tế khóa thứ 11. Chị nhập học vào năm 2013 và tốt nghiệp vào năm 2017.
Hiện tại, chị đang sống ở đảo Penang, Malaysia. Công việc của chị là Trainer, thuộc Traning Department (Phòng Đào tạo) của công ty Teleperformance.
Công ty Teleperformance thuộc dạng BPO (Business Process Outsourcing – công ty thứ ba chuyên cung cấp các dịch vụ cho các công ty khác). Em có thể hiểu, Teleperformance chuyên outsource cung cấp nhân lực cho các công ty, nhãn hàng khác, vị trí công việc thường là Call Center hoặc Customer Service. Những công ty mà Teleperformance thường xuyên hợp tác đều là những công ty có tên tuổi trên thế giới, như Facebook, Air Asia, Adidas,… Nói chung là hợp tác với rất nhiều công ty, chị không kể hết được. Công ty có hàng nghìn dự án và chi nhánh ở hơn 60 nước trên thế giới.
Hàng ngày, chị là người trực tiếp đứng lớp training các nhân viên trong công ty. Ví dụ, khi công ty có những nhân viên mới, họ sẽ không hiểu về những dự án công ty đang làm, thì chị sẽ là người đứng lớp đào tạo nghiệp vụ cho các bạn ấy. Hoặc công ty có khóa học “refresher” dành cho những nhân viên làm việc lâu năm, thì chị cũng là người đứng lớp.
Công việc thiên về đào tạo nghiệp vụ, đòi hỏi phải hiểu biết về nhiều lĩnh vực. Mới đầu chị gặp khá nhiều khó khăn, bởi vì cái gì cũng phải biết. Nhưng dần dà mọi chuyện đã ổn định rồi.

Lý do vì sao chị chọn học ngành Quan hệ quốc tế?
Khi còn học cấp ba, chị chẳng có suy nghĩ mình sẽ thi vào ngành nào. Một lần nọ, chị gặp một chị cựu học sinh chung trường cấp ba với chị. Chị ấy lớn hơn chị bốn tuổi và học ngành Quốc tế học. Chị ấy kể rằng ngành Quốc tế học rất thú vị. Mình sẽ được tìm hiểu về Lịch sử văn minh thế giới, Lịch sử về quan hệ ngoại giao giữa các nước. Chị thấy chị ấy đi nhiều nơi, tham gia nhiều hội thảo, làm thông dịch viên ở nhiều sự kiện. Mọi thứ trông thật sang chảnh, ngành học này nghe cũng thú vị đấy chứ. Chị ấy gợi ý chị có thể tham khảo thêm về ngành này.
Chị tìm hiểu thì thấy có ngành Quan hệ quốc tế ở Học viện Ngoại giao (Hà Nội), ngành Quốc tế học ở Đà Nẵng và ngành Quan hệ quốc tế ở trường mình trong TP.HCM. Chị có hứng thú với việc Nam tiến hơn và mẹ chị cũng khuyến khích điều đó. Chị thấy môi trường trong Nam cởi mở và phát triển, nên chị nghĩ mình sẽ có nhiều cơ hội. Vậy là chị chọn học ngành mình ở TP.HCM.

Khi vào học ngành mình, mới đầu chị rất thích. Nhưng càng về sau, chị tự hỏi rằng lẽ nào chị không hợp với ngành này. Chị không biết học xong sẽ làm gì. Chị trốn học rất nhiều, vì chị không biết học những môn đó để làm gì. Chị bị mất phương hướng.
Nhưng mà chị lại vô thư viện rất nhiều. Mỗi khi trốn học, chị lại vào thư viện đọc sách. Sau những lần đó, chị phát hiện ra chị thích đi đến nhiều nơi. Chị nhận ra chị thích đi đây đi đó, khám phá những vùng đất mới, tiếp xúc những con người mới và trải nghiệm nhiều nền văn hóa mới. Chung quy là chị thích đến với những nơi mà chị chưa biết. Bời vì đời sống ở quê chị không hiện đại. Vì là thị xã, sau này có lên thành phố nhưng là thành phố cấp độ 3, chưa phát triển nhiều, nên chị càng khao khát được đi đến nhiều nơi hơn nữa.
Em có hỏi chị, ước mơ của chị trước khi vào đại học là gì. Chị chỉ có một ước mơ duy nhất thôi, đó là đi du học. Chị thích du học lắm. Chị dán đầy poster, postcard trên bàn học. Nhưng mà ở quê chị, mọi thứ vẫn chưa hiện đại, nên chị không biết nhiều thông tin. Chị biết chị thích du học, nhưng chị không biết làm cách nào để đi du học được.
Chị chọn trường mình một phần vì nghĩ rằng, trường sẽ cấp những suất học bổng toàn phần. Sau này chị mới biết, học bổng chỉ khoảng 50% thôi, và thường là cho những nước châu Á như Nhật, Hàn, Trung Quốc. Chứ học bổng ở những nước châu Mỹ, châu Âu thì mình phải tự tìm, trường không trực tiếp tài trợ.
Ước mơ của chị chỉ có nhiêu đó thôi, đó là đi du học. Có lẽ đó chính là tiền đề cho ước mơ được đi vòng quanh thế giới của chị.

Lúc còn đi học, chị có bao giờ nghĩ về con đường tương lai sau khi tốt nghiệp?
Có, chị nghĩ rất nhiều. Trong suốt bốn năm đại học, hầu như ngày nào chị cũng nghĩ về việc mình sẽ làm gì sau khi ra trường.
Chị suy nghĩ và tìm hiểu rất nhiều công việc liên quan đến sở thích đi đây đi đó. Khi chị học năm 1, năm 2, chị thích công việc tiếp viên hàng không. Chị cũng từng thi tuyển nhưng thất bại. Sau đó, chị có tìm hiểu về những công việc như travel blogger, hướng dẫn viên du lịch, viết báo về ngành du lịch, công việc thiện nguyện như làm farm,… Nhưng chị cảm thấy tất cả công việc đó đều không phù hợp với mình.
Trên chuyến tàu từ quê vào lại Sài Gòn sau dịp Tết, lúc đó chị chuẩn bị bước vào học kì 2 của năm học cuối cùng, tâm trí chị lúc nào cũng dấy lên suy nghĩ: “Mình sẽ làm gì với cuộc đời mình sau khi ra trường?”. Hai giờ sáng, chị bất giác tỉnh dậy. Trên tàu, mọi người đều đã ngủ say. Nhìn khung cảnh bình yên, lòng chị không khỏi xao động vì có quá nhiều nỗi lo của một sinh viên năm cuối. Không thể như vậy được, chị tự nhủ. Thế là bước xuống tàu, bắt xe trở về ký túc xá, chị lao lên mạng tìm kiếm tất cả những công việc liên quan đến sở thích của chị.

Vì sao chị biết đến công việc thuyền viên trên tàu?
Với từ khóa “Những công việc đi được nhiều nơi”, chị lao vào Google để tìm kiếm. Chị đi đến những trang cuối cùng của Google, và ở những trang xa tít mù khơi ấy, chị tìm được một công việc có tên là “Jobs onboard” – Làm việc trên du thuyền.
Chị cứ tìm trên Google, đọc những tài liệu từ tiếng Anh đến tiếng Việt, xem tất cả video trên YouTube nói về nghề thuyền viên, tìm kiếm những group trên Facebook, inbox những anh chị đã từng làm qua công việc này. Công việc thực sự mới, thường thì các bạn học ngành Hàng hải hoặc Du lịch thì mới biết công việc này, chứ người ngoài thì không ai biết cả. Những bài báo chị đọc qua, và những anh chị từng làm trên tàu mà chị có dịp trao đổi, đa số đều đưa ra những câu chuyện rất đáng sợ, cứ như muốn ngăn cản mình đừng đến với công việc vậy.
Nhưng tính chị không có gì khác ngoài việc liều. Trừ khi chính tai chị nghe, mắt chị nhìn thấy và chính chị trải qua, thì không điều gì có thể làm chị sợ.
Một ngày nọ, chị tìm được một ebook nói về công việc trên du thuyền, được viết bởi một người Mỹ có thâm niên 16 năm trong nghề. Ông từng làm những vị trí nhỏ nhất trên tàu, cho tới những vị trí cao cấp nhất. Nhận thấy chưa có cơ hội tiếp xúc với nguồn thông tin chính thống, khách quan, chị quyết định đi làm thẻ visa và đặt mua quyển ebook ấy. Theo chị, quyển ebook là nguồn tài liệu đáng tin và khách quan nhất, vì trong đó tác giả đã viết tất cả về nghề, kể cả mặt tốt lẫn mặt chưa tốt.

Em thắc mắc, tại sao chị lại quyết tâm cao độ với một công việc mới lạ như thế?
Ừ là vì thế này nè. Chị có ước mơ đi ra thế giới, đi đến thật nhiều nơi mới lạ. Đó là khát khao cháy bỏng của chị. Có rất nhiều cách để làm việc đó. Chị đã thử những cách như chị đã kể ở trên: thi tuyển tiếp viên hàng không, tìm hiểu nghề hướng dẫn viên du lịch, travel blogger,… Nhưng chị đều vấp phải trở ngại. Có rất nhiều điều ngăn cản chị thực hiện ước mơ.
Vì đã thử những cách trước mà không thành công, chị nói với bản thân mình: “Lần này nhất định phải làm được”. Những lần trước càng thất bại bao nhiêu, chị càng tức giận bấy nhiêu và buộc lòng mình lần này phải làm được. Giống như là sống chết cũng phải làm. Sắp ra trường rồi, chị không muốn lông bông nữa.
Thật ra chị không biết lý do vì sao. Có thể là do khát khao đi ra thế giới của chị đã ấp ủ từ rất lâu. Từ những năm cấp ba, chị đã thích đi đến nhiều nơi. Bây giờ chị muốn bung ra khỏi chiếc hộp đã giam giữ chị. Chị thấy người khác làm được, đi được, thì tại sao chị lại không được như thế. Chị cũng biết tiếng Anh, năng lực chị không đến nỗi, nên chắc chắn chị sẽ làm được.
Bên cạnh đó, chị thường xuyên xem video về nghề du thuyền, xem profile, Facebook của những người làm trên tàu. Chị thấy hình ảnh của họ đi đến nhiều nơi tuyệt đẹp. Đó chính là cuộc sống chị mong muốn và chị nhất quyết phải được như thế. Chị hay xem những video về truyền động lực. Chị để hình màn hình điện thoại, laptop, email là những chiếc du thuyền. Nghĩa là chị nuôi dưỡng ước mơ của chị hàng ngày.
Từ khi chị biết đến công việc này cho đến khi chị chính thức lên tàu, mất gần 1,5 – 2 năm. Đó là một quá trình dài chứ không phải đạt được thành quả ngay lập tức.

Chị kể về hành trình của công việc thuyền viên nhé.
Kể ra thì mấy ngày cũng không hết. Chị sẽ kể những chi tiết làm chị nhớ mãi nha.
THẤT BẠI NỐI TIẾP THẤT BẠI
Sau khi tìm hiểu rất nhiều thông tin, đặt mua và đọc quyển ebook như chị đã kể ở trên, chị bắt đầu nộp đơn ứng tuyển. Tính chị hơi ham nên chị chỉ nộp đơn cho những hãng tàu châu Âu, châu Mỹ, châu Úc có tên tuổi, vì họ có những chuyến đi vòng quanh thế giới, khám phá các nước ở tất cả châu lục, trong khi những hãng tàu ở châu Á thì không.
Nghĩ lại, ngày ấy chị cứ ngô nghê ứng tuyển trực tiếp vậy đó, trong khi điều quan trọng nhất là kinh nghiệm thì chị lại không có. Vị trí chị muốn ứng tuyển là lễ tân, và sau này chị biết lý do chị rớt, là vì vị trí này đòi hỏi kinh nghiệm ít nhất 2 năm làm việc ở nhà hàng khách sạn 5 sao, biết ít nhất 3-5 thứ tiếng (không tính tiếng mẹ đẻ nha). Đây lại là vị trí rất hiếm khi tuyển (vì một con tàu chỉ cần vài lễ tân, và phải có người ngừng việc thì tàu mới có nhu cầu tuyển). Trong khi đó, cơ hội làm việc trên tàu dành cho một người Việt Nam chưa bao giờ đi tàu, chưa hề có kinh nghiệm làm việc trong ngành nhà hàng khách sạn là 0%. Chị lại chọn cách ứng tuyển trực tiếp trong khi chị không có kinh nghiệm. Mỗi buổi sáng thức dậy, chị đều nhận 2 email từ chối. Nếu được phỏng vấn thì cũng rớt. Tâm trạng lúc đó chùng xuống hết cỡ.
Còn một cách cuối cùng: Nộp đơn thông qua các công ty tuyển dụng tàu biển. Chị đã bắt xe bus đến tất cả các công ty dạng này ở TP.HCM và nhận ra: Họ không tuyển cho những hãng tàu chị muốn làm. Họ thường tuyển cho những hãng tàu châu Á, nếu có tuyển cho tàu châu Mỹ, châu Âu thì danh tiếng tàu lại không được tốt.
Tình cờ thế nào chị lại tìm ra một công ty của Thái Lan tên là CTI, chuyên tuyển dụng cho hãng tàu Mỹ 4-6 sao. Và trùng hợp thay, thời điểm đó công ty có một chị người Việt đứng ra đại diện, chuyên hỗ trợ người Việt có nguyện vọng làm việc cho những hãng tàu Mỹ 5-6 sao. Chị tiếp tục nhận được cái lắc đầu từ chối, nhưng kèm theo lời khuyên của nhà tuyển dụng:
– Tiếng Anh của em rất tốt. Có những người ứng tuyển với kinh nghiệm 10 năm, nhưng tiếng Anh của họ không tốt như em. Nhưng điều quan trọng nhất là em không có kinh nghiệm làm việc trong ngành nhà hàng khách sạn. Bây giờ em phải học việc, đi làm lấy kinh nghiệm trong những nhà hàng khách sạn 5 sao, khoảng 6 tháng thôi, rồi sau đó mới lên tàu được.
Sau một hồi đấu tranh nội tâm dữ dội và lắng nghe lời khuyên của nhà tuyển dụng, chị chuyển nguyện vọng từ công việc lễ tân sang công việc bồi bàn, bộ phận F&B (Food and Beverage). Vị trí bồi bàn luôn được hãng tàu tuyển dụng thường xuyên và chỉ yêu cầu kinh nghiệm 1 năm. Chị chỉ cần lên được tàu trước đã. Các bộ phận trên tàu được luân chuyển dễ dàng, trong lúc chờ đợi chuyển sang vị trí lễ tân thì chị đã đi đến rất nhiều nước trên thế giới rồi.
Thế là chị khăn gói ra đảo ngọc Phú Quốc, thực tập ở một resort 6 sao thuộc JW Marriott – thương hiệu nghỉ dưỡng đẳng cấp hàng đầu thế giới (JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay Resort & Spa)
Và đó chính là khoảng thời gian đau buồn và nản lòng nhất trong cuộc đời chị.
CHÁN NẢN, TỦI THÂN, CẢM THẤY MÌNH THẬT VÔ DỤNG
Từ nhỏ đến lớn chị quen sống sung sướng rồi. Những công việc làm thêm thời sinh viên cũng loanh quanh như trợ giảng, nhân viên văn phòng, thiên về giao tiếp chứ không phải lao động chân tay. Làm việc ở resort Phú Quốc, chị bắt đầu từ những công việc nhỏ nhặt nhất, mà lại khó khăn nhất. Chị bị sốc toàn tập. Hôm nào cũng đi và chạy từ sáng đến chiều, trầy chân và chảy máu là chuyện bình thường; mang vác, bưng bê những chiếc khay to bằng cái bàn, trên đó là hàng chồng chén dĩa sứ và hàng trăm chiếc muỗng nĩa dao bạc. Ngày đầu mới đi làm 3 tiếng là chị muốn xách vali về nhà luôn.
Ban đầu chị chậm chạp và vụng về lắm, ngày nào cũng bị la. Mọi người biết chị có nguyện vọng đi tàu châu Mỹ, từ đồng nghiệp cho đến sếp cấp cao nhất đều nói rằng chị sẽ không bao giờ làm được. Giám đốc bộ phận bảo: “I don’t see you on cruise ship”. Anh quản lý thì nói: “Nếu em đi được, anh nghĩ là em không hoàn thành nổi hợp đồng đầu tiên đâu”. Những người khác thì nói chị: “Ốm yếu vậy sao đi tàu được. Suy nghĩ lại đi”.
Chị nghe mà buồn với tủi thân lắm, cảm thấy bản thân thật vô dụng.
KHÔNG BAO GIỜ BỎ CUỘC
Tính chị rất lì. Làm nhiều riết cũng thành quen. Từ khi quyết tâm đi tàu nước ngoài, sáng nào chị cũng dậy thật sớm, bật những video “Dream Motivation” để nghe, nghe đến thuộc làu. Có hai câu nói đã trở thành thái độ sống của chị:
“For those of you that have experienced some hardships, DON’T GIVE UP ON YOUR DREAM. The rough times are gonna come but have not come to stay, they have come to pass”.
“And when you face disappointments, you have to know within yourself that I CAN DO THIS, EVEN IF NO ONE SEE IT FOR ME, I MUST SEE IT FOR MYSELF”.
Có lẽ thái độ sống đó, cộng với ước mơ được đặt chân đến và khám phá thật nhiều đất nước khác nhau, đã là động lực để chị kiên trì đến cùng.
Thực tập được 4 tháng, chị lên làm nhân viên chính thức. Lúc này, chị xin làm ở louge cho bằng được để pha chế và phục vụ đồ uống. Cũng thuộc bộ phận F&B, nhưng công việc đỡ nhọc hơn nhiều, lại còn có thời gian trò chuyện với khách nữa.
Dần dần, chị được khách khen và nhắc tới trên website TripAdvisor (website về ngành du lịch lớn nhất hiện nay, cung cấp những đánh giá đến từ phía khách hàng). Chị còn được đưa lên “bức tường vinh danh” của JW Marriott Phú Quốc.
Trong suốt thời gian này, chị vẫn giữ liên lạc với chị người Việt bên công ty CTI.

NHỮNG CỐ GẮNG ĐƯỢC ĐỀN ĐÁP XỨNG ĐÁNG
Cuối cùng, cơ hội đã đến với chị. CTI mở văn phòng đại diện ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các hãng tàu Mỹ đưa Giám đốc Nhân sự đến Việt Nam để tuyển nhân viên cho các lounge trên tàu. Sau nhiều vòng phỏng vấn, chị chính thức được nhận vào làm cho hãng tàu 6 sao cao cấp nhất nước Mỹ – Regent Seven Seas.
Khỏi phải nói chị đã sung sướng đến mức nào. Sau ngày nhận được kết quả, chị phải trải qua quãng thời gian chờ đợi (vì phải có người xuống tàu thì mới trống chỗ để người khác lên thay), hoàn tất hàng đống thủ tục giấy tờ. Rất gian nan nhưng lại là gian nan trong vui sướng nên không sao ^^

Những kỉ niệm đáng nhớ của chị khi làm việc trên tàu?
Có quá nhiều kỷ niệm ấm lòng mà nếu chị kể hết thì chắc đủ in thành sách dày như tiểu thuyết Suối nguồn của Ayn Rand vậy đó ^^
Những vị khách dễ thương, tốt bụng
Hãng tàu chị làm việc có 5 con tàu. Tàu của chị tên là Regent Seven Seas Voyager, tuổi đời lâu năm nhất, chỉ có khoảng 700 khách đều thuộc tầng lớp thượng lưu và 450 nhân viên đến từ 60 đất nước khác nhau ở mọi châu lục. Tuyệt nhiên chưa có người Việt nào nên chị là người Việt đầu tiên làm việc trên đây.
Càng làm việc với nhiều người đến từ nhiều vùng đất khác nhau, chị nhận ra những người giàu có, thành đạt thật sự sẽ không bao giờ có thái độ trịch thượng, vênh váo, trái lại họ sống rất giản dị, tính tình cởi mở và tốt bụng, điềm đạm và khiêm tốn. Những khách trên tàu thuộc tầng lớp sang trọng. Họ rất giàu có và tuyệt nhiên không bao giờ có thái độ hách dịch với nhân viên. Chị từng được nghe kể về những người khách kì quái và khó tính, nhưng chắc do chị may mắn hay sao mà đi đâu cũng gặp người tốt.
Lúc mới lên tàu, chị làm rơi bể đủ thứ, khách nói gì cũng không hiểu vì họ đến từ nhiều nước khác nhau, accent cũng khác. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ví dụ như chị rót rượu cho khách mà bị rơi vài giọt trên bàn (dù chỉ rơi một giọt rượu cũng là điều tối kị ở tàu 6 sao), bưng đồ nhầm bàn,… vậy mà khách vẫn tươi cười và động viên chị rất nhiều. Họ xua tay cười xòa khi chị lỡ làm rơi vài giọt rượu. Đến ngày hôm sau chị không làm rơi giọt nào, họ vỗ tay tán thưởng làm chị vừa vui vừa ngại. Có một cặp vợ chồng già biết chị mới lên tàu, họ hay quan tâm và lo lắng cho chị, ngày rời tàu họ thì thầm to nhỏ với quản lý, nhờ sếp thay họ chăm sóc chị. Lại còn có một cặp vợ chồng khác đòi nhận chị làm con nuôi nữa.

Mỗi ngày thức dậy ở một đất nước xinh đẹp khác nhau
Lịch làm việc của chị không phải là thứ hai, thứ ba, thứ tư,… mà sẽ là Livorno (nơi có tháp nghiêng Pisa), Civitavecchia (thành Rome), Sicily, Santorini, Rhodes, Venice, Barcelona,…
Nơi mà chị ấn tượng nhất là Havana, Cuba. Chị đã được đi đến nhiều vùng đất xinh đẹp, nhưng đối với chị Havana vẫn là nơi chị nhớ mãi. Sau khi làm thủ tục nhập cảnh, rời khỏi tòa nhà hành chính, chị như quay ngược thời gian bước vào thế giới thời cận đại: Những tòa nhà lộng lẫy mang nét kiến trúc phương Tây cũ, những chiếc ô tô Mỹ kiểu cổ đầy màu sắc và bao nhiêu xe ngựa nườm nượp qua lại. Trong phút chốc, chị tự hỏi chị đã làm điều gì để giờ đây được tận hưởng điều may mắn này.

Những khó khăn chị phải trải qua khi chọn công việc trên tàu?
Điều gì cũng có sự đánh đổi. Làm việc trên tàu khá là khắc nghiệt.
Chị không có ngày nghỉ. Hợp đồng 8 tháng nghĩa là 8 tháng làm việc liên tục, không có một ngày nghỉ nào. Sẽ không có thứ bảy, chủ nhật. Chị ngủ bao nhiêu cũng không đủ. Những giờ giải lao mà lại có khách, buộc mình phải tăng ca. Những lúc tàu di chuyển từ lục địa này sang lục địa khác, không cập cảng thì dễ gặp biển động. Tàu nghiêng bên nào thì chị và khay nước nghiêng theo bên đó, muốn xỉu ngay tại chỗ luôn.
Bên cạnh môi trường làm việc chuyên nghiệp, hòa đồng, sếp và đồng nghiệp thân thiện, mức lương cao, thì có những quy tắc khắt khe buộc phải tuân theo, nếu không thì sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng. Ví dụ như quy tắc về vệ sinh, tốc độ và chất lượng phục vụ. Trên bàn của khách không được có một cọng rác nào. Sau khi khách đi, phải dọn dẹp thật nhanh và sạch sẽ, kể cả một hạt bụi, một miếng khăn giấy cũng không được sót lại. Vì có rất nhiều người cùng sống trên một chiếc tàu, nên việc vệ sinh phòng ở luôn được chú trọng và kiểm soát khắt khe. Một người ốm là cả thuyền bị vạ lây. Mỗi lần tới đợt kiểm tra, nếu không đảm bảo chất lượng vệ sinh thì toàn bộ sếp đều bị thay, tàu phải ngừng phục vụ một thời gian. Vì vậy trước ngày kiểm tra vệ sinh, mọi người đều phải tăng ca để lau chùi từng ngóc ngách nhỏ nhất, khá là căng thẳng.

Khi chị lựa chọn công việc này, gia đình và mọi người xung quanh có nói gì với chị không?
Có chứ, ai cũng bàn tán và ngăn cản chị. Kể cả chị cũng nhiều lần tự vấn bản thân nữa.
Khi chị quyết tâm làm việc trên tàu, chị suy nghĩ: Mình tốt nghiệp đại học, mình có ngoại ngữ, và bây giờ mình đi làm bồi bàn. Chị có mặc cảm chứ, nhưng chị phải vượt qua.
Còn về phía mọi người xung quanh, ai cũng ngăn cản chị, từ gia đình, hàng xóm láng giềng cho đến bạn bè. Họ thắc mắc tại sao chị chọn con đường cực nhọc thế, bao nhiêu công việc để làm, sao không đi làm văn phòng mà lại đi làm trên một con tàu xa lạ. Ba mẹ chị không muốn con gái đi làm xa nhà. Không một ai ủng hộ chị cả. Cứ 10 người từng làm việc trên tàu thì có 7 người ngăn cản chị, bảo chị đừng làm công việc này.
Thật ra thì cũng có một số người khích lệ chị. Ví dụ như có một người anh từng làm ở hãng tàu Mỹ, anh ấy là một trong số những người luôn luôn trả lời các câu hỏi của chị và động viên chị. Và cả tác giả cuốn ebook về công việc trên tàu nữa. Chị gọi điện, nói chuyện video với ông ấy luôn. Ông động viên và thúc đẩy chị, nói rằng cứ làm đi và ông sẵn sàng giúp đỡ.

Làm sao chị có thể vượt qua những mặc cảm của bản thân để theo đuổi công việc trên tàu?
Một người cô trên lớp đại học đã dạy chị, mỗi khi đứng trước quyết định gì, hãy viết ra những cái được và mất của nó rồi cân đo đong đếm, cái nào nhiều cái “được” hơn, hãy chọn nó. Chị luôn nhớ lời cô dạy, vì trong cuộc sống có rất nhiều điều cần ra quyết định.
Về mức lương, nếu chị chọn làm công việc văn phòng bình thường, lương khởi điểm sẽ trong khoảng 8-15 triệu, còn mức lương trên tàu thì chỉ có chục triệu trở lên thôi, và mức lương rất tốt dành cho người mới ra trường chưa có kinh nghiệm làm việc như chị. Về tính trải nghiệm, nếu chọn làm văn phòng, chị sẽ có những ngày nghỉ phép, nhưng chỉ là vài ngày ngắn ngủi, đi được loanh quanh vài nơi. Còn ở trên tàu, mỗi ngày chị đến với một đất nước khác nhau. Công việc văn phòng thì ngồi một chỗ, còn công việc trên tàu cho phép chị trải nghiệm nhiều điều, gặp nhiều người với phong cách sống đa dạng, phong phú.
Suy đi tính lại, công việc trên tàu chỉ có 2 điều “chưa được”: vị trí bồi bàn làm chị tủi thân, và sự nặng nhọc của công việc. Nhưng chị đã suy nghĩ kĩ, công việc trên tàu vẫn vượt trội hơn hẳn, và trong khoa mình chưa có ai làm công việc này. Vậy tại sao mình lại không làm khác đi, tại sao mình cứ phải làm những công việc giống như người ta?
Đối với những công việc có tính chất mới lạ như thế, theo chị, mình nên liều lĩnh vào những năm vừa mới ra trường. Lúc này, mình được quyền thất bại và sai lầm. Thất bại là chuyện bình thường. Khi mình 29, 30 tuổi, nếu mình muốn thử sức với một điều mới mẻ, vẫn được thôi nhưng sẽ có nhiều khó khăn, rào cản hơn. Chị nghĩ, đây chính là cơ hội, là thời điểm thích hợp nhất của chị.
Chị không ngại viêc. Công việc part time đầu tiên thời sinh viên của chị cũng là việc bồi bàn. Nếu 8 tháng trên tàu chị gặp thất bại, thì chị cứ trở về. Tám tháng là quãng thời gian không dài và chị không có gì để mất. Nhận thấy công việc phù hợp với sở thích và cá tính của chị, chị quyết định theo đuổi nó đến cùng.
Khi mình gói ghém và mang về những trải nghiệm, mọi người sẽ nhìn mình khác đi. Từ ngày chị đi thuyền về, ba mẹ đều ủng hộ bất cứ điều gì chị làm. Đương nhiên lúc chị đi Ấn Độ, ba mẹ rất lo lắng. Rồi đến khi sang Malaysia, ba mẹ chị ngăn cản, lo sợ rằng liệu công việc này có thật hay không, lúc đó lại đang có dịch Covid nữa. Nhưng chị thấy người ta vẫn đi được, tại sao mình không đi được. Chị vẫn sống, vẫn nguyên vẹn, và chính những rào cản đó khi vượt qua được, mọi người sẽ tin tưởng mình hơn, mình sẽ có tiếng nói hơn.

Chị kể về hành trình của chị sau khi làm việc trên tàu đi. Em thấy chị từng ở Ấn Độ, và bây giờ lại làm việc ở Malaysia. Phải chăng do dịch Covid19 đã làm thay đổi những kế hoạch của chị?
Cũng đúng một phần đó.
Bốn tháng cuối cùng của hợp đồng làm việc đầu tiên, tự dưng chị muốn buông bỏ vì công việc nặng nhọc quá. Tuy nhiên, chị vẫn nghĩ: “Không. Mình muốn tiếp tục làm ở trên tàu. Mình sẽ tìm cách”. Thế là chị đi hỏi mọi người và các phòng ban khác. Chị biết được có bộ phận là Executive Offshore, chuyên tổ chức những activities (hoạt động), dẫn các đoàn khách tham quan. Ở trên tàu có nhiều cấp bậc vị trí khác nhau. Càng có nhiều kinh nghiệm, khi xuống tàu, mình càng dễ ứng tuyển vào vị trí quản lý cấp cao ở các nhà hàng khách sạn, resort hạng sang. Chị khá là hứng thú với công việc đó. Và chị quyết định sau khi kết thúc kì nghỉ 2 tháng, chị sẽ quay lại tàu, kí hợp đồng tiếp theo và xin chuyển sang bộ phận mới, phù hợp với chị hơn (Cứ 8 tháng làm việc liên tục trên tàu, nhân viên sẽ có 2 tháng nghỉ vacation không phải làm việc. Sau 2 tháng, lại tiếp tục lên tàu với hợp đồng 8 tháng tiếp theo).
Sếp chị rất thích chị, và ông cho chị nghỉ 4 tháng chứ không phải 2 tháng. Chị tự hỏi, có tận 4 tháng nghỉ ngơi thì chị sẽ làm gì? Vậy là chị đến Ấn Độ học lấy bằng yoga (để phục vụ cho nguyện vọng đổi bộ phận trên tàu) và nghĩ về việc nộp hồ sơ chương trình Working Holiday của Úc.
Kế hoạch của chị là học lấy bằng yoga, tiếp tục làm việc trên tàu với hợp đồng 8 tháng tiếp theo, sau đó sẽ đến Úc với chương trình Working Holiday. Đó là những dự định của chị nếu như không có chuyện gì bất ngờ xảy ra.

Lúc chị ở Ấn Độ để học yoga, dịch bệnh bắt đầu bùng phát mạnh mẽ. Lịch quay trở lại tàu của chị cứ bị dời lại. Cá nhân chị thấy làm việc trên tàu lúc đó khá là nguy hiểm, có những người lên tàu và mắc kẹt ở trên đó không xuống được. Cùng thời điểm, chị nộp đơn Working Holiday ở Úc và trúng tuyển. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh ở Úc lúc bấy giờ cũng rất phức tạp. Chị rất ngần ngại và rơi vào khủng hoảng.
Trong lúc chị không biết phải làm gì tiếp theo, một người anh (đang làm ở Teleperformance, Malaysia, nơi chị đang làm hiện tại) liên hệ và gợi ý chị qua Malaysia làm việc. Ban đầu chị không hứng thú đâu. Chị nghĩ Penang, Malaysia có vẻ nhàm chán. Nhưng anh ấy cứ gợi ý chị mãi, bảo là chị ứng tuyển thì chắc chắn sẽ đậu. Lúc đó, cả công việc trên tàu và chương trình Working Holiday ở Úc đều bị trục trặc, nên chị quyết định đi đến Maylaysia và làm việc cho đến bây giờ.
Chị rất thích công việc và môi trường sống hiện tại. Chị nghĩ các bạn sinh viên mới ra trường mà muốn thử sức làm việc ở nước ngoài, với kinh nghiệm làm việc chưa nhiều, thì công việc giống như thế này cũng là lựa chọn khá lý tưởng đó.
Nếu một ngày nào đó có tin tuyển dụng vị trí Offshore trên tàu, chị vẫn sẽ nộp đơn vì chị rất muốn có cơ hội quay trở lại tàu.

Chị có lời nhắn gửi nào dành cho các bạn sinh viên ngành Quan hệ quốc tế không?
Việc gì cũng làm được, miễn là đủ quyết tâm
Chị thấy các bạn sinh viên bây giờ rất giỏi. Người Việt mình cũng đi đầy đủ các nước ở mọi châu lục. Vì vậy chỉ cần có ý chí, có ước mơ, đủ quyết tâm thì việc gì cũng làm được, miễn là mình thích công việc đó.
Em hỏi chị công việc nào là phổ biến nhất, thì chị thấy không có cái gì gọi là chung nhất cả. Mỗi người sẽ có con đường riêng, không cần phải tựu lại làm đúng một công việc duy nhất.
Đừng bao giờ bỏ qua những sở thích nhỏ nhặt nhất
Làm sao để biết mình thích điều gì? Mình phải thử thật nhiều, trải nghiệm thật nhiều. Mình có thể tìm hiểu thông tin ở các kênh, báo chí, trang mạng, những fanpage, mỗi ngày cứ đọc và cập nhật thật nhiều. Mình có thể thử nhiều việc khác nhau, tham gia nhiều hoạt động, làm nhiều công việc, rồi từ đó sẽ biết được mình thích điều gì.
Các bạn hãy để ý những điều bé nhỏ nhất. Những sở thích nhỏ nhặt thường bị bỏ qua, nhưng chính những sở thích nhỏ bé ấy lại giúp bạn biết bạn thật sự thích điều gì.
Ví dụ như người bạn cùng nhà với chị. Bạn ấy rất yêu thích cà phê, mùi hương, nến thơm. Vậy là bạn lọ mọ đi học cách làm nến, cách điều chế mùi hương. Ban đầu, bạn làm ra những lọ nến để tặng bạn bè. Bây giờ bạn ấy đang kinh doanh nến thơm rồi.

Làm việc trên tàu nước ngoài là một cảm giác thú vị rất riêng, không thể nào quên được vì chị có cơ hội đi đến nhiều nơi, khám phá nhiều điều mới lạ, gặp gỡ nhiều con người khác nhau, va chạm nhiều và từ đó trưởng thành hơn hẳn.
Càng đi đến nhiều nơi xa, chị càng nhận ra Việt Nam mình quá đẹp, không thua gì những địa danh nổi tiếng tầm cỡ thế giới. Sau hành trình đó, chị cũng khám phá nhiều điều về bản thân hơn: Thì ra mình cũng mạnh mẽ đến vậy. Bây giờ thả mình vào một nơi mới lạ không quen biết ai, mình vẫn có thể sống sót, và sống vui, sống tốt là đằng khác.
Hy vọng chị đã đóng góp vài điều bé nhỏ cho em và các bạn. Nếu bạn muốn thử thách, muốn khám phá thế giới và có cho mình thật nhiều trải nghiệm, nào mời bạn lên tàu!

Kết thúc buổi trò chuyện với chị vào một chiều cuối tuần, trong tôi rạo rực nhiều suy nghĩ. Buổi nói chuyện với chị không khác gì một buổi truyền động lực lớn lao. Chị luôn miệng nói, chị có gì giỏi giang mà chia sẻ chứ, nhưng đối với tôi, câu chuyện của chị vô cùng độc đáo và đủ sức lan tỏa đến với nhiều người. Với tinh thần kiên trì đến cùng, cộng với việc tìm được người định hướng và làm theo những lời dẫn dắt, chị đã có những trải nghiệm tuyệt vời rất riêng.
Bên cạnh đó, điều tôi trân quý nhất chính là việc chị biết mình thích gì. Chị không biết chị sẽ làm công việc gì sau khi ra trường, nhưng chị biết chị thích điều gì, và chị theo đuổi đến cùng với sở thích đó. Chị luôn nhắc về việc, đừng bao giờ bỏ qua những sở thích nhỏ nhất. Vì chính những sở thích đó sẽ dẫn bạn đến với con đường tương lai.
==========
P/S: Chị Trinh nhờ tôi gửi đến các bạn quyển ebook How To Work On A Cruise Ship – quyển sách năm đó đã góp phần to lớn vào hành trình làm việc trên du thuyền của chị. Chị nhắn rằng, rất mong quyển ebook sẽ là nguồn tài liệu chỉn chu, tường tận dành cho những ai muốn thử sức với công việc thuyền viên.
Bạn có thể đọc thêm phiên bản Facebook của bài viết tại đây: https://bit.ly/QHQT_NguyenThiPhuongTrinh